Top 5 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất

19-05-2021 5 1 0 0

Báo lỗi

Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là một bài thơ hay viết vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được nhà thơ viết tại TP.HCM in trong tập “Ánh trăng”. Tác phẩm là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên vương quốc bình dị và hiền hậu. Qua đó, tác giả muốn nhắn gửi tới người đọc hãy sống thủy chung, ân tình với quá khứ. Mời những bạn đọc xem thêm một số bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết sau.

12345

1


Thai Ha

Bài xem thêm số 1

Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy mang dáng dấp một mẩu chuyện nhỏ, một lời tâm tình kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm hứng trữ tình của nhà thơ chảy theo mạch tự sự đó. Ở quãng thời gian giữa quá khứ và thực tại đã có một sự biến đổi, một sự thực đáng để ý: bắt đầu từ hồi ức về “hồi nhỏ”, ‘hồi chiến tranh” sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, với vầng trăng: “không lúc nào quên cái vầng trăng tình nghĩa”. tiếp theo là sự đổi thay của hoàn cảnh hiện tại: “Từ hồi về thành phổ”, con người sống với những tiện nghi hiện đại mà quên đi vầng trăng: “vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường”.

Trước hết, ánh trăng của Nguyễn Duy là hình ảnh đẹp của thiên nhiên với toàn bộ những gì là thi vị, gần gũi, hồn nhiên, tươi mát. Ánh trăng gần với tuổi ấu thơ của tác giả. Vầng trăng ấy hồn nhiên như cuộc sống, như đất trời. Cuộc sống hoà bình “ánh điện của gương, buyn đinh” đã khiến cho nhà thơ nhìn ánh trăng như một “người dưng qua đường”. Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên nhiều chiến trường đã có những lúc như quên béng quá khứ.

tưởng như toàn bộ là lẽ thường tình nếu không tồn tại sự cố ấy xảy đến. Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư: “thình lình đèn điện tắt” đúng là bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề tác phẩm. Vầng trăng tròn ở ngoài kia, trên kia đối lập với “phòng buyn-đinh tối om”. Chính vì xuất hiện đột ngột trong bối cảnh ấy, vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên đã gợi ra bao kỷ niệm nghĩa tình. Phải đột ngột như thế. Phải bất ngờ như thế, vầng trăng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Nhà thơ lặng lẽ đối diện với vầng trăng trong tư thế lặng im có phần thành kính: “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa, tạo ra sự đa dạng nghĩa của ý thơ. Đối diện với trăng, nhà thơ làm thức tỉnh tình cảm, lương tâm con người: như nhìn thấy cả mặt Trong số đó và tư vấn lương tâm, hổ then, ân hận về sự thay đổi của tôi.

Cuộc đối thoại không lời trong khoảnh khắc ấy đã làm nhà thơ “rưng rưng” xúc động vì quá khứ vất vả, gian lao nhưng tràn ngập thú vui cùng với trăng, với thiên nhiên xưa nay tưởng đã quên béng bỗng ùa về trong nỗi nhớ khiến nhà thơ nghẹn ngào… Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa sâu sắc hình tượng: hình tượng cho quá khứ nghĩa tình, hình tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống. Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê nhà vương quốc, mà còn đánh thức trong tâm trí con người bao kỷ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỷ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu.

Cuộc sống hiện tại như ngừng lại để con người soi vào quá khứ, vào một thời họ đã quên béng. Con người có thời điểm soi vào chính mình, nhận lấy lỗi lầm. Có quá khứ xa và gần, có vương quốc và quê nhà, thiên nhiên và cuộc sống, lao động và chiến đấu, có tập thể và cá nhân.

Trăng còn gợi lên hình ảnh của hiện tại, sự giàu đẹp, nỗi gian lao, vất vả còn phải phấn đấu, niềm tin và hy vọng, sự hùng vĩ của thiên nhiên vương quốc và sức mạnh của con người trong cuộc sống trải qua một loạt những điệp từ “như là” cùng nhịp thơ dồn dập, những hình ảnh liệt kê: “như là đồng là bể”, “như là sông là rừng”. toàn bộ làm cho người đọc thực sự xúc động và hoà chung cảm xúc với trữ tình của bài thơ.

Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm sâu sắc và triết lý nhân sinh của nhà thơ qua hình tượng trăng. Trong cuộc gặp gỡ không hẹn trước này trăng và người như có sự đối lập:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Trăng trở thành hình tượng cho sự không bao giờ thay đổi, vĩnh hằng không thay đổi, “cứ tròn vành vạnh” hình tượng cho sự tròn đầy, thuỷ chung, nghĩa tình trọn vẹn của thiên nhiên, của quá khứ, dù cho con người đổi thay hay “vô tình” đi chăng nữa.

Ánh trăng còn được nhân hoá “im phăng phắc” không một lời trách cứ, gợi liên tưởng đến cái nhìn nghiêm khắc mà bao dung, độ lượng của người bạn thuỷ chung, tình nghĩa, nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta: con người rất có thể vô tình quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn thủy chung, son sắt đến muôn đời.

Tình cảm và tấm lòng của vầng trăng đúng là tình cảm của những người đồng chí đồng đội, của đồng bào, của nhân dân ta đối với người lính. Sự im lặng ấy làm nhà thơ “giật mình” thức tỉnh nhận thấy lỗi lầm. Cái “giật mình” của lương tâm, lương tri nhà thơ thật đáng trân trong. Nó thể hiện sự suy nghĩ, trăn trở tự đấu tranh với chính mình để sống tốt hơn. Giật mình để không chìm vào quên béng. Giật mình để không đánh mất quá khứ. Con người giật mình trước ánh trăng lặng lẽ là sự thức tỉnh của nhân cách trở về với lương tâm trong sáng, đẹp đẽ, cao quý.

Dòng thơ cuối dồn nén biết bao niềm tâm sự, là lời sám hối ăn năn dù không cất lên nhưng chính vì thế càng trở thành ám ảnh, day dứt. Qua đó, Nguyễn Duy muốn gửi đến mọi người lời nhắc nhở về lẽ sống, về đạo lý ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc ta đến thế hệ mai sau: dù cuộc sống có bao nhiêu thay đổi đi chăng nữa thì cũng đừng lúc nào quên béng quá khứ đau thương nhưng nghĩa tình thủy chung của dân tộc.

“Ánh trăng” của Nguyễn Duy gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị như lời tâm sự, lời tự thú, nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng, thì thầm như rót vào lòng người. Bài thơ có ý nghĩa sâu sắc sâu sắc, khái quát bởi lời nhắn nhủ không những dành riêng cho những người lính chống Mỹ mà nó có ý nghĩa sâu sắc với toàn bộ mọi người, mọi thời – Trong số đó có thế hệ chúng ta.

“Ánh trăng” không những thành công ở triết lý sâu xa của nhân vật trữ tình mà còn thành công ở nghệ thuật kết cấu, giọng điệu. Đó là sự phối kết hợp hài hoà, tự nhiên giữa tự sự và trữ tình. Sự việc trong tự sự dẫn mạch cho cảm xúc trữ tình, làm cho cảm xúc chân thành, tha thiết. Thể thơ 5 chữ tương thích với chất tự sự được thể hiện bằng giọng điệu tâm tình, thấm thía. Cách trình diễn những chữ đầu dòng thơ làm cho những sự việc ra mắt liền mạch về ý tưởng cũng như về hình ảnh thơ. Nhịp thơ khi trôi chảy, tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể; khi ngân nga thiết tha cảm xúc; lúc lại trầm lắng đầy ắp suy tư. Kết cấu, giọng điệu thơ làm nổi trội chủ đề của tác phẩm tạo thành tính chân thực, chân thành sức truyền cảm sâu sắc cho tác phẩm, gây ấn tượng mạnh với người đọc.

Chủ đề bài thơ có liên quan đến đạo lý, lẽ sống của dân tộc Việt Nam ta. Từ một mẩu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian khổ mà nghĩa tình đối với thiên nhiên, vương quốc bình dị. Bài thơ gợi lên những suy nghĩ về đạo lý, lẽ sống của người Việt Nam. Nó không những là mẩu chuyện của riêng nhà thơ, riêng một người mà là của cả một thế hệ đã trải qua những năm dài chiến tranh gian khổ, mất mát, đã từng sống giữa thiên nhiên, sống giữa nhân dân tình nghĩa. Giờ đây sống trong cảnh hoà bình với những tiện nghi đầy đủ, hiện đại, người ta rất có thể thay đổi, đánh mất quá khứ, đánh mất nghĩa tình để rồi một lúc nào đó lại phải ân hận, ăn năn.

Từ mẩu chuyện về ánh trăng, khổ thơ 5 và 6 bài thơ Ánh trăng nhẹ nhàng nhắc nhở chúng ta đừng lúc nào quên quá khứ, đừng lúc nào trở thành những kẻ vô tình, vô nghĩa, tệ bạc, vô ơn. “Ánh trăng” nằm trong mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn” gợi lên đạo lý sống thuỷ chung trở thành truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài xem thêm số 2

Bao trùm cả bài thơ “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy là một nỗi day dứt, ăn năn cứ nối dài triền miên khôn nguôi. Ở ngay cái tên bài thơ cũng đủ để ta thấy được chủ đề của cả bài thơ. Bởi lẽ, khác với “vầng trăng” là hình ảnh cụ thể thì “ánh trăng” là những tia sáng. Tia sáng ấy đã soi rọi vào góc tối của con người, đánh thức lương tâm của con người, làm sáng bừng lên cả một quá khứ đầy ắp những kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương.

Khổ thơ thứ năm là hình tượng vầng trăng và cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ. Còn đến khổ thơ thứ sáu là những suy ngẫm và triết lí nhân sinh của nhà thơ qua hình tượng trăng:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng

Từ “mặt” trong khổ thơ được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm. Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi hội ngộ vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những quên béng lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, toàn bộ đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – hình tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của tôi, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

Nhà thơ lặng lẽ đối diện với trăng trong tư thế lặng im có phần thành kính: “Ngửa mặt lên nhìn mặt”. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa, tạo ra sự đa dạng nghĩa của ý thơ. Nhà thơ đối diện với mặt trăng, người bạn tri kỉ mình đã quên béng, vầng trăng đối diện với con người hay nói cách khác quá khứ đối diện với hiện tại, thủy chung tình nghĩa đối diện với tệ bạc vô tình và quên béng để tự thú về sự bội bạc của tôi.

Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đó khiến cho người lính áy náy dù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện. Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và Hình như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của tôi. Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của tôi ngày nào, nơi có “sông” và có “bể”.

Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và những giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở thành thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không lúc nào bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.

Những suy ngẫm và triết lí nhân sinh của nhà thơ được thể qua hình tượng trăng ở khổ thơ cuối:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình

Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu. Rồi đến hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa sâu sắc nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sáng, đẹp đẽ. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

Trong cuộc hội ngộ không lời này trăng và người như có sự đối lập. Trăng trở thành hình tượng cho sự không bao giờ thay đổi, vĩnh hằng không đổi thay. “Trăng cứ tròn vành vạnh” hình tượng cho sự tròn đầy thủy chung, trọn vẹn của thiên nhiên, quá khứ dù cho con người đổi thay “vô tình”.

Ánh trăng còn được nhân hóa “im phăng phắc” không một lời trách cứ, gợi liên tưởng đến cái nhìn nghiêm khắc, bao dung, độ lượng của người bạn thủy chung, tình nghĩa, nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta: con người rất có thể vô tình quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình quá khứ luôn tròn đầy bất diệt.

Tình cảm của trăng, tấm lòng của trăng đúng là tình cảm của những người đồng chí, đồng đội, đồng bào, nhân dân. Sự im lặng ấy làm nhà thơ “giật mình” thức tỉnh, cái “giật mình” của lương tâm nhà thơ thật đáng trân trọng, nó thể hiện sự suy nghĩ, trăn trở tự đấu tranh với chính mình để sống tốt hơn. Giật mình để không chìm vào quên béng. Giật mình để không đánh mất quá khứ. Con người giật mình trước ánh sáng lặng lẽ là sự thức tỉnh của nhân dân cách trở về với lương tâm trong sáng, đẹp đẽ.

Dòng thơ cuối dồn nén biết bao tâm sự, lời sám hối ăn năn dù không cất lên nhưng chính vì thế càng trở thành ám ảnh, day dứt. Qua đó Nguyễn Duy muốn gửi đến mọi người lời nhắc nhở về lẽ sống, đạo đức lí ân nghĩa thủy chung.

Trong cuộc hội ngộ không lời này, trăng va người như có sự đối lập. Trăng – hình ảnh của thiên nhiên, trong cảm nhận của con người, giờ đây theo quy luật tuần hoàn của nó, vẫn chiếu sáng, vẫn “tròn vành vạnh” dẫu cho “người vô tình”. Suốt bài thơ, vầng trăng luôn được mô tả gắn với những định ngữ (“tình nghĩa”, “tròn”), đến khổ cuối kết tinh trong hình ảnh “tròn vành vạnh”, đó là ân nghĩa thủy chung, là những giá trị đẹp đẽ của quá khứ mãi vẹn nguyên. Cái im lặng của trăng, cái ánh sáng dịu mát của trăng không phải là một sự bất động và lại làm cho con người suy ngẫm về tôi.

Con người như có sự ân hận, xót xa vì đã “vô tình”, vô tình với trăng cũng là vô tình với cuộc sống, với con người và cả với những gì thân thuộc, với quá khứ, với hiện tại. Cái “im phăng phắc”, sự im lặng đầy tình nghĩa, không một lời trách cứ mà có phần nghiêm khắc của trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng lặng lẽ là sự bừng tỉnh của nhân cách, trở về với lương tâm trong sáng, đẹp đẽ. Đó là một nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người. Cái “giật mình” chứa đựng cả tin yêu, hy vọng. Sự xao động trong lặng yên này như một mạch nước ngầm vọt trào lên sẽ xua đi bao lỗi lầm để vững vàng tạo một cuộc sống đẹp đẽ.

Giọng thơ từ thiết tha đến trầm lắng trong cảm xúc và suy tư lặng lẽ. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài tác giả nhiều lần nhắc đến “vầng trăng tròn”, còn đến đây lại nhắc đến Ánh trăng và tên tập thơ cũng là Ánh trăng. “Vầng trăng tròn” để nói về quá khứ thủy chung, tình nghĩa, vẹn nguyên, còn “ánh trăng” để nói về vầng hào quang của quá khứ, ánh sáng của lương tâm, của đạo đức, cái ánh sáng rọi soi, thức tỉnh, để xua đi khuất tối trong tâm hồn.

Hình ảnh thơ đến đây gợi ra chiều sâu tư tưởng triết lí: vầng trăng không những là hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là hình tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế, trăng còn là vẻ đẹp bình dị mà vĩnh hằng của đời sống. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ kể chi người “vô tình” là hình tượng cho sự bao dung, độ lượng, cho nghĩa tình thủy chung, trọn vẹn, trong sáng, vô tư, không đòi hỏi sự đền đáp. Đó đúng là phẩm chất cao quý của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thơ từ thời chiến tranh chống Mĩ.

Vầng trăng cứ tròn vành vạnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên, chẳng thể mờ phai. “Ánh trăng im phăng phắc” đúng là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ (và cả trong những chúng ta). Con người rất có thể vô tình, quên béng, nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Ánh trăng vì thế không những là chuyện của một người, một thế hệ – thế hệ từng sống hào hùng suốt một thời đánh giặc, mà có ý nghĩa sâu sắc với nhiều người, với mọi thời. Nó có ý nghĩa sâu sắc cảnh tỉnh, gợi cho mọi người sống ý nghĩa sâu sắc, sống đẹp, xứng đáng với, những người đã khuất, xứng đáng với chính mình, trân trọng quá khứ để vững bước trên đường tới tương lai.

Bài thơ nói chuyện trăng và lại là chuyện đời, khơi đúng cái mạch nguồn đạo lí truyền thống của dân tộc: thủy chung, nghĩa tình, uống nước nhớ nguồn, lời thơ thấm thía, xúc động, bởi trước hết nó là lời tự nhắc nhở với giọng trầm tĩnh mà lắng sâu.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài xem thêm số 3

Trăng là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Trăng như một hình tượng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ. Nhưng có một nhà thơ cũng viết về trăng, không những tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự mang tính hàm nghĩa độc đáo. Đó là trường hợp bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Vầng trăng đã từng gắn bó với tuổi thơ, với cuộc đời người lính, trở thành người bạn tri kỉ, ngỡ không lúc nào quên. nhưng hoàn cảnh sống đổi thay, con người cũng thay đổi, có những lúc cũng trở thành vô tình. Sau thành công trở về thành phố, quen ánh điện cửa gương, khiến cho vầng trăng tình nghĩa vô tình bị quên béng. nhưng một tình huống đời thường xảy ra làm cho con người phải giật mình tỉnh ngộ, phải đối mặt với vầng trăng mà sám hối:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng.

Rưng rưng là thể hiện xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại. Bao kỉ niệm đẹp ùa về, tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng với bể,với sông với rừng. Cấu trúc câu thơ song hành với những biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ cho thấy ngòi bút Nguyễn Duy thật tài hoa. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ngôn từ và hình ảnh thơ đi vào lòng người, khắc sâu một cách nhẹ nhàng mà thấm thía những gì nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta. Khổ thơ cuối mang hàm ý độc đáo và sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Tròn vành vạnh là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. Trăng vẫn thuỷ chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Ánh trăng im phăng phắc, không một lời trách cứ. Trăng bao dung và độ lượng biết bao. Tấm lòng bao dung độ lượng ấy khiến cho ta phải giật mình. Sự giật mình để tự lột xác, để trở về. Trở về với chính mình đẹp đẽ xưa kia. Đó là cái giật mình để tự hoàn thiện.

Tóm lại, với giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng, đoạn thơ trên đã gây nhiều xúc động cho người đọc. Nó như là lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành. Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói rằng: phải thuỷ chung, trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với nhân dân, với vương quốc, và ngay với chính bản thân mình.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài xem thêm số 4

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” – đó là truyền thống nhiều năm của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy đã được nhắc đến rất nhiều trong những tác phẩm văn học từ bao đời nay. Chỉ bàn đến những tác phẩm văn học hiện đại lớp 9, hẳn chúng ta đều biết đến những tác phẩm thuộc chủ đề này: “Bếp lửa” của Bằng Việt, “Ánh trăng” của Nguyễn Duy. Qua những bài thơ, những tác giả đã kín đáo bộc lộ những suy nghĩ, chiêm nghiệm về một lẽ sống ân nghĩa thủy chung cao quý trong cuộc đời của mỗi con người.

Bằng hình tượng “Ánh trăng” thấm đượm ý nghĩa sâu sắc nhân văn và tư tưởng triết luận, Nguyễn Duy đã thẳng thắn và quả cảm gửi tới chúng ta một bức thông điệp tha thiết, đẹp đẽ: “Hãy lắng lại một phút cái chen lấn, bận rộn của cuộc sống để nhìn lại bản thân mình!” – để trở về với cội nguồn đạo lý “nhớ nguồn” của dân tộc trải qua việc xây dựng nhân vật trữ tình biết tự soi rọi, tự ý thức về những lầm lỗi của tôi, để hướng thiện. Lời nhắn nhủ của nhà thơ giống như một mẩu chuyện nhỏ với giọng điệu tâm tình. Đây là mẩu chuyện của chính nhà thơ.

Lời thơ mở đầu như đưa người đọc trở về với quá khứ tuổi thơ của tác giả với cùng một giọng kể nhỏ nhẹ. Đó là một tuổi thơ gắn bó thân thiết với thiên nhiên. Tuổi thơ được cảm nhận những điều kì thú của thiên nhiên. Đến khi trở thành người lính, sống ở trong rừng vầng trăng lại thành tri kỉ. Người chiến sĩ rất có thể nằm ngủ dưới trăng, đứng gác dưới trăng, trăng cùng sẻ chia những gian lao của cuộc đời người lính. Trăng cũng đã cùng vui thú vui thắng trận của người chiến sĩ. Rõ ràng tình cảm của người chiến sĩ và trăng là tình cảm keo sơn gắn bó, tưởng như tình cảm đó gắn bó mãi mãi. Nhưng mẩu chuyện chuyển biến về hiện tại, điều “ngỡ không lúc nào quên” lúc bấy giờ đã quên. Giọng thơ như trầm lắng lại với nét trầm ngâm, suy tư khi kể tới. Cảnh phồn hoa nơi đô thị tấp nập, đời sống của con người cũng bắt đầu thay đổi. Ánh sáng của điện đã thay cho ánh sáng của trăng. Bởi thế mà lòng người lúc này cũng thay đổi. Vẫn là vầng trăng xưa, lúc bấy giờ vầng trăng ấy lại đi qua ngõ. Thế nhưng người bạn ấy lúc bấy giờ đã thành người dưng tức là không hề quen biết. Sự đổi thay này ra mắt trong lòng người lính. Anh đã quên đi người bạn năm xưa, người bạn đã từng chịu chung gian khổ ở rừng, cùng gắn bó với anh tuổi ấu thơ. Giọng thơ thầm thì như lời trò chuyện. Anh đang trò chuyện với chính mình, suy nghĩ về sự việc mình đã thay đổi tình cảm quên đi vẻ đẹp của thiên nhiên, bình dị. Phải chăng, sự suy ngẫm này như một sự sám hối, tự trách mình. Sống trong hiện tại mà quên đi quá khứ, sống trong hòa bình có đầy đủ vật chất mà quên đi những ngày gian khổ.

Nhưng nhà thơ không dừng lại ở đó mà còn sáng tạo ra một cuộc sống chân thực mà cũng rất quen thuộc xảy ra ở đô thị đó là hệ thống đèn điện tắt cả. Một không gian phòng – đinh tối om. Người chiến sĩ cũng như bao người khác vội bật tung cửa sổ, đột ngột thấy vầng trăng. Như vậy trăng xưa lại đến với người vẫn tròn vẫn đẹp và thuỷ chung với mọi người.

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng

Người ngắm trăng và suy ngẫm bâng khuâng “Ngửa mặt lên nhìn mặt”. Hai chữ “mặt” trong một vần thơ, mặt trăng và mặt người đối diện nhau. Đó là nhìn mặt tri kỉ, mặt của tình nghĩa mà xưa nay nay mình dửng dưng. Nguyễn Duy hội ngộ ánh trăng như hội ngộ người bạn tuổi thơ, như hội ngộ người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Trăng chẳng nói chẳng trách nhưng tâm trạng của người lính có gì đó rưng rưng. Phải chăng đó là tâm trạng xúc động nghẹn ngào. Nước mắt như chực ứa ra. Bao kỉ niệm đẹp của một đời người đã ùa về trong tâm trí người chiến sĩ. Từ “rưng rưng” gợi tả nỗi xúc động của thi sĩ. Những kỷ niệm ngày nào xưa nay tưởng bị chôn vùi nay lại ùa về đánh thức tâm hồn người trong cuộc “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Câu trúc của câu thơ sóng đôi phối kết hợp với phép tu từ so sánh, từ “là” được nhắc lại bốn lần cho ta thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa. Ông đã gợi ta được sự gắn bó chan hòa với thiên nhiên của người chiến sĩ trong quá khứ. Bởi lẽ nhớ tới đồng, tới sông, tới bể là nói tới thời ấu thơ, nói tới rừng là nói tới thời chiến tranh. Hai hình ảnh thơ này được lặp lại ở khổ thơ đầu. Như vậy vầng trăng trong đoạn thơ không những là vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là hình tượng của quá khứ tình nghĩa. Vầng trăng đã đánh thức dậy toàn bộ, từ những năm tháng hoa niên cho tới khi cầm súng hành quân đuổi giặc dưới những cánh rừng. Hóa ra những ký ức đẹp đẽ ấy đã không mất đi và con người không phải hoàn toàn vô tâm đến thế. Ký ức ấy chỉ tạm lắng xuống, con người trong lúc bận rộn rất có thể quên béng đi nhưng chỉ việc một tác động nhỏ nào đó, chúng sẽ sống dậy vẹn nguyên, thậm chí còn đằm sâu hơn, tạo thành vẻ đẹp không gì sánh nổi của tâm hồn con người.

Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm tong suy tư, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghĩa” một thời:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình

Bài thơ dừng ở cảm xúc “rưng rưng” cũng đã rõ chủ đề. Nhưng thêm một đoạn cuối, ý tưởng bài thơ được đẩy cao thêm, rõ hơn và mạnh hơn trong sự comment về một thái độ sống. Hình ảnh “vầng trăng” còn được nhà thơ nhìn lại “tròn vành vạnh” thật là đẹp, một chiếc đẹp viên mãn không hề bị khiếm khuyết dù ai kia thay đổi, vô tình. Ánh trăng sáng tròn đầy hay đúng là nét đẹp của tình nghĩa thủy chung, nhân hậu? Ánh trăng vừa nghiêm khắc, lạnh lùng, vừa bao dung độ lượng: “kể chi người vô tình”. Chính ánh trăng vô ngôn, không một lời trách cứ ấy đã khiến cho “người vô tình” thấy rõ cái khiếm khuyết của bản thân mà không khỏi “giật mình“ tỉnh ngộ. Thật khó diễn tả cho toàn bộ tâm trạng của con người lúc ấy, biết bao ý nghĩa sâu sắc hàm ẩn trong hai chữ “giật mình”. Cái “giật mình” chân thành thay cho một lời sám hối ăn năn. Dù lời sám hối ấy không được cất lên nhưng chính vì thế nó lại làm cho ý thơ trở thành ám ảnh, day dứt hơn. Cả bài thơ là vô nhân xưng, đến đây tác giả mới xưng “ta” để nhận lỗi, để tạ tội. một chiếc giật mình tái mặt khi nhận thấy chân tướng của chính mình. Đằng sau cái giật mình ấy người đọc cảm nhận được niềm ân hận day dứt của một con người đã nghiêm khắc nhìn thẳng vào mình để nhận thấy cái sai của tôi. Người xưa hay nói “trong cái rủi có cái may”. Một sự cố rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con người trở về với những giá trị cao đẹp, vĩnh hằng. Đó đúng là cái hay và độc đáo của bài thơ có sức cảm hóa lòng người.

Đọc bài thơ người đọc đều cảm nhận thấy đây không những là mẩu chuyện riêng của nhà thơ mà cũng là chuyện của tôi. Từ mẩu chuyện ấy gợi ra cho người đọc sự suy ngẫm và liên tưởng tới cách sống của chính mình . Nhà thơ tâm sự với bạn đọc những điều sâu kín nơi lòng mình nhưng cũng là để gửi tới người đọc một bức thông điệp về cách sống đẹp trong hoàn cảnh vương quốc hòa bình. Qua tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy ở bài thơ “Ánh trăng”, chúng ta như được thanh lọc lại tâm hồn mình, như lay động miền ký ức mà có những lúc vô tình chúng ta đã quên béng. Mong sao những ai từng ở với sông, với biển, với đồng, với rừng… trong những năm tháng gian lao ấy luôn luôn có được tình cảm này.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài xem thêm số 5

Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Con người không thể muốn trốn chạy vầng trăng, trốn chạy cả bản thân mình được nữa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây đúng là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc – dùng những từ không trực tiếp để diễn tả sự xúc động cảm động chợt dâng trào trong lòng anh khi hội ngộ vầng trăng.

Cảm xúc “rưng rưng”: Tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.

Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm quá khứ đẹp đẽ khi cuộc sống còn quá nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên trăng là tri kỷ, tình nghĩa.

Khổ thơ kết lại bài thơ bằng hai vế đối lập mà song song:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Đủ cho ta giật mình”

Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Vầng trăng có ý nghĩa sâu sắc hình tượng sâu sắc. Hình ảnh “vầng trăng tròn vành vạnh”, ngoài nghĩa đen là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng của cuộc sống còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của nghĩa tình quá khứ, đầy đặn, thuỷ chung, nhân hậu bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, con người, nhân dân, vương quốc.

Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” có ý nghĩa sâu sắc nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta con người rất có thể vô tình, rất có thể quên béng nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận thấy sự vô tình, tệ bạc, sự nông nổi trong cách sống của tôi.

Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không lúc nào được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn, bất diệt. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lý làm người đâu cứ phải tìm trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được khuôn mặt thực của tôi, để tìm lại nét đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 5 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *