Top 5 Cảm nhận về tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương (Ngữ văn 9) hay nhất

15-05-2021 5 11 0 0

Báo lỗi

Bài thơ “Nói với con” của nhà thơ Y Phương được sáng tác vào năm 1980, khi giang sơn mới hòa bình thống nhất nhưng gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Từ hiện thực ấy, tác giả sáng tác bài thơ như một lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này. Với thể thơ tự do phóng khoáng, giọng điệu trìu mến thiết tha, hình ảnh thơ mang đậm bản sắc thơ ca miền núi, người đọc cảm nhận được tình cảm gia đình ấm cúng cùng với niềm tự hào quê và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn Cảm nhận về tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương trong bài viết Toplist tổng hợp dưới đây.

12345

1


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 1

Tình cảm gia đình luôn được coi là một trong những nguồn cảm hứng mãnh liệt dạt dào nhất cho thơ ca. Trong số đó những bài thơ ca tụng về tình mẫu tử thiêng liêng, phụ tử quý báu. Tìm bài thơ tình mẫu tử không khó nhưng để nói hay nói đúng về tình phụ tử thì có lẽ chỉ có bài thơ “Nói với con” của tác giả Y Phương là thể hiện cực kì trọn vẹn. Tác giả đã khéo léo đan cài tình cảm gia đình vào trong tình yêu nước yêu dân tộc để dạy dỗ con nên người.

Tình cảm gia đình luôn là thứ sức mạnh lớn lao nhất mà mỗi con người có được. Nó vừa là động lực vừa là thứ vũ khí sắc bén nhất để đưa chúng ta vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cảm nhận thứ nhất về bài thơ này đó đúng là hình ảnh đứa con lớn lên trong tình yêu thương sự đùm bọc chở che và chờ mong của cha mẹ.

“Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười”

Ít nhiều những hình ảnh này đã gợi nên trong tâm trí chúng ta cả một trời kí ức mộng mơ. Đó là hình ảnh đứa trẻ bi bô tập nói và lững chững bước những bước thứ nhất trong cuộc đời trong sự chờ mong khắc khoải của cha mẹ. Có ai đó đã từng nói rằng gia đình đúng là chiếc nôi êm ái và quý giá nhất để nâng bước con vào đời. Thế nhưng không chỉ là có gia đình mới là chiếc nôi nuôi nấng con mà nó còn được gắn chặt với tình cảm của quê trong cuộc sống khốn khó mà ân tình của người dân lao động:

Người đồng mình yêu lắm con ơi….

……tấm lòng

Ở đây ta thấy có sự xuất hiện của cụm từ Người đồng mình. Vậy thì người đồng mình là ai? Đó là một cách nói mang đậm nét đặc trưng địa phương của đồng bào miền núi. Ý chỉ những người đồng bào cùng chung một nguồn gốc nguồn gốc, một quê bản quán và một dân tộc. Tác giả đã vận dụng cực kì khéo léo cách nói của người dân tộc miền núi vào ý thơ. Hầu hết những suy nghĩ đều được mô tả chân thực qua từng câu chữ. Đan lờ bắt cá, bàn tay khéo léo của người dân lao động đã tạo ra những nan hoa. Vách nhà tạo ra từ những câu hát,…. Rừng ở đây không chỉ là cho gỗ quý cho lâm sản quý hiếm mà còn cho cả những bông hoa khoe sắc đẹp cho đời. Sự lao động miệt mài đó đã mang đến cho con người biết bao nhiêu điều đẹp đẽ. Con đường không chỉ là là nơi in dấu những bước chân xuôi ngược là nơi đi lại mà nó đúng là hành trình nuôi nấng con khôn lớn.

Đến đây nhà thơ đã chuyển mạch thơ sang suy ngẫm về cội nguồn về hạnh phúc quê bản xứ:

Cha mẹ…

… trên đời

không chỉ là cho con biết về cội nguồn của sinh dưỡng mà ở đây người cha còn muốn răn dậy con cả về những đức tính đẹp đẽ của “người đồng mình” đồng thời còn gửi gắm cả những ước mơ vĩ đại vào thế hệ con mai sau. Đó đúng là tình yêu lao động hăng say là sức sống bền chắc vượt lên mọi hoàn cảnh thử thách mọi khó khăn gian khổ:

Người đồng mình thương lắm con ơi

Không lo cực nhọc

Ở đây mạch thơ trở thành dồn dập nhanh hơn như một bài ca để răn dậy con những điều quý giá về cách sống và cách làm người. thứ nhất đó đúng là bài học về sự đoàn kết tinh thần tương thân tương ái mãnh liệt. Sự yêu thương đùm bọc đúng là sức mạnh để giúp người đồng mình vượt qua biết bao nhiêu gian truân thử thách trong cuộc đời. những câu thơ đối xứng nhau như “cao đo nỗi buồn/ xa nuôi chí lớn” thể hiện thật dứt khoát thật mạnh mẽ những ý chí sắt đá của dân tộc mình.

Cuộc sống rất có thể vất vả rất có thể nghèo khổ tuy nhiên con người luôn luôn tự hào và gắn bó với mảnh đất quê của tôi. Và sau cùng người cha muốn gửi gắm đến người con của tôi dù có ở bất kỳ đâu, làm bất kỳ điều gì thì phải luôn biết nhớ về quê. Biết vượt qua mọi cam go thử thách trong cuộc sống bằng ý chí và niềm tin mãnh liệt. Không được chê bai và phản bội quê. Đoạn thơ lặp đi lặp lại bởi tiết tấu nhanh mạnh, dứt khoát, cứng rắn và dồn dập bởi những điệp từ, điệp ngữ và cấu trúc linh hoạt lay động trái tim của bất kỳ ai nghe.

rất có thể nói bài thơ “Nói với con” là một trong những bài thơ xuất sắc nhất nói về tình phụ tử thiêng liêng mà cao quý trên đời. Nó như một chất men ủ càng lâu càng ngọt, càng lâu càng thấm. Tình cảm gia đình đúng là thứ tình cảm cực kì cao quý và thiêng liêng song hành cùng với tình yêu của giang sơn, của quê. Nó đúng là thứ động lực mãnh liệt để vun đắp và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 2

Có lẽ những bạn cũng đã biết xưa nay tình mẫu tử luôn là đề tài phong phú cho thơ ca. Những bài thơ nói về tình cảm cha con thì rất là ít. Riêng bài thơ “Nói với con” của tác giả Y Phương là một trong những tác phẩm rất hiếm hoi đó. Bài thơ Nói với con thể hiện tình cảm êm ấm của gia đình, tình yêu quê da diết, ngọt ngào và ngợi ca giá trị truyền thống tình nghĩa, sức sống mạnh mẽ của người dân miền núi.

Cội nguồn sinh dưỡng của con trước hết là cái nôi gia đình con lớn lên trong mái ấm có cha có mẹ trong vòng tay yêu thương. Cha mẹ thấy hạnh phúc sung sướng, từ bước chập chững từ tiếng nói tiếng cười thứ nhất của con. Cách nói mộc mạc, nghệ thuật liệt kê điệp ngữ, gợi ra không khí gia đình đầm ấm tràn ngập yêu thương.

“Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”

Hơn thế, cái nôi nhỏ xíu ấy, còn được đùm bọc bởi cái nôi rộng lớn đó là quê. Con lớn lên trưởng thành trong cuộc sống lao động trong thiên nhiên thơ mộng nghĩa tình quê. Tác giả vận dụng cách nói của người miền núi để sáng tạo những hình ảnh cụ thể vừa mang tính khái quát cao. Người đồng mình, vùng núi, dân tộc mình yêu lắm con ơi. Đan lờ, ken vách chăm chỉ lao động, chăm chỉ lao động đùm bọc sẻ chia gắn bó với nhau.

“Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng”

Thiên nhiên đẹp đẽ thơ mộng trở qua nghệ thuật nhân hóa. Điều đó khẳng định một quê nghĩa tình. Người cha muốn nói với con vẻ đẹp ấy của người đồng mình mà để yêu, gắn bó. Do đó, khi sung sướng ôm con thơ vào lòng nhìn con khôn lớn, suy nghĩ về nghĩa tình làng bận quê nhà người cha nghĩ về kỉ niệm hạnh phúc.

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày thứ nhất đẹp nhất trên đời”

Những đức tính cao đẹp của người đồng mình và mong ước ở bên con. Vẫn cách diễn đạt mộc mạc độc đáo. Nhà thơ tiếp tục thể hiện, nét đẹp của người đồng mình qua những hình ảnh đặc sắc.

“Người đồng mình…

không lo cực nhọc”

Điệp ngữ “người đồng mình” lặp lại ba lần, đó là cảm xúc trào dâng trong tâm trạng nhà thơ. Biết bao nỗi niềm thiêng liêng da diết với quê với con người nơi đây mà thổn thức thành lời gọi “Yêu lắm, thương lắm, con ơi”. Đứng trước hoàn cảnh quê giang sơn lúc bấy giờ điểm tựa tinh thần và củng cố niềm tin duy nhất là cách tin vào sức mạnh truyền thống dân tộc lòng thủy chung với quê. Dù hôm nay quê, người đồng mình còn nghèo gian truân vất vả.” Sống trên đá, trong thung lên thác, xuống ghềnh” thì cũng đừng “chê đá gập ghềnh, chê thung nghèo khổ”. Lạc quan ” như sông, như suối”. Trong ý thơ có nét đặc sắc, nhà thơ lấy cái cao xa của trời đất để đo tầm kích của nỗi buồn và ý chí người đồng mình, tác giả muốn nhắn nhủ khuyên răn truyền cho con cách nhìn và nghị lực, nỗi buồn dẫu cao to như núi thì ý chí tâm hồn con người, sẽ càng xa càng dài như sông suối, lớn lao như biển rộng. phải ghi nhận chân trọng yêu thương nơi mình sinh ra và lớn lên. Dù gian truân đến đến đâu cũng đừng chê đừng bỏ, đừng làm việc trái lòng mình. phải ghi nhận chăm chỉ lạc quan để vượt qua để sống cho xứng đáng.

Người đồng mình tuy mộc mạc thô sơ nhưng giàu bản lĩnh và lòng tự trọng

“Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ xíu đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê

Còn quê thì là phong tục”

Ý thơ cụ thể mà hàm ý sâu xa, nhà thơ nhắc lại hai lần người đồng mình thô sơ da thịt, mộc mạc. Về lời ăn tiếng nói nhưng chẳng mấy ai nhỏ xíu về ý chí nghị lực lòng tự trọng mà ngược lại rất mạnh mẽ, khoáng đạt giàu niềm tin và tinh thần lạc quan, bền chắc gắn bó với quê. Câu thơ độc đáo mang cách nói đặc trưng sâu sắc của người miền núi.

“Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ xíu đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê”

Đục đá kê cao là hành động thực người miền núi thường đục quá kê cao nhà kê nối đi, từ hình ảnh đó lời thơ chuyển nghĩa khái quát ” kê cao quê” đó là ý thức bảo vệ và tinh thần xây dựng quê ngày càng tiến bộ giàu đẹp hơn là tôn vinh giữ gìn truyền thống, phong tục tập quán đẹp đẽ của quê.

Những câu cuối, nhà thơ khẳng định muốn truyền cho con sức mạnh vào truyền thống quê, người đồng mình tuy thế nhưng sống cao đẹp, mong con sau này lớn khôn trưởng thành trên cuộc đời phải sống cao thượng để xứng đáng truyền thống đẹp đẽ đó. Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, số câu số chữ không khuôn chỉnh thích hợp mạch cảm xúc tự nhiên, linh hoạt nhịp điệu bay bổng nhẹ nhàng.

Qua những lời tâm sự của cha đối với con. Ta thấy tình cảm cha con thật thân thích, trìu mến, người cha luôn muốn truyền dạy cho con những điều đẹp đẽ nhất. Chính vì vậy, mỗi người con như chúng ta hãy chân trọng cố gắng giữ gìn những truyền thống đẹp đẽ của ông cha ta.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 3

“quê là gì hở mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu

quê là gì hở mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều”.

Ai cũng có thể có một quê, nơi thứ nhất đón nhận tiếng khóc của ta và đón nhận ta vừa lúc lọt lòng. Nghĩ về quê, trong những người lại gợi lên một hình ảnh riêng nhất, đẹp nhất xen lẫn một niềm xúc cảm chân thành lẫn tự hào. Bởi thế, dù đã có rất nhiều người nói về quê mình, làm thơ về quê nhưng quê trong Nói với con của Y Phương vẫn mang lại cho ta niềm xúc động sâu lắng.

Có lẽ, ai cũng thế, những gì người ta thường gợi để nhớ về quê là những gì chân chất, mộc mạc, giản dị nhất. Nếu Đỗ Trung Quân gắn quê với hình ảnh “chùm khế ngọt”, “đường đi học”, là “con diều biếc”… thì Y Phương đã chỉ cho con:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”.

Đó là một vùng quê núi rừng còn vẫn chưa phát triển, nhưng con người thì cực kì đáng quý, miền đất giàu truyền thống văn hoá và nhất là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn, tấm lòng chất phác thiện lương. Những người đồng mình thương lắm nhưng cũng lớn lao đầy khí phách trong cả nỗi buồn và chí hướng (Cao đo nỗi buồn; Xa nuôi chí lớn). quê trong Nói với con có gì riêng nhưng cũng có thể có cái gì đó rất chung.

Nhưng có lẽ, điều in sâu đậm nhất trong lòng mỗi đứa con (và người đọc chúng ta) là những lời dặn dò, khuyên bảo của người cha. Đứa con trước cha, trước quê luôn mãi là một hình ảnh yêu thương, bé xíu nhất và lúc nào cũng rất cần được chở che, dạy dỗ. Bài học của cha luôn là động lực giúp con khôn lớn, cứng cỏi trước cuộc sống.

Dấu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo khổ

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai bé nhỏ đâu con”.

Chính giọng điệu của đoạn thơ đã gieo vào lòng người cảm xúc về những lời căn dặn đầy thân thương, chân thành, tha thiết. Dù hoàn cảnh sống có thế nào thì con người luôn phải vượt lên hoàn cảnh để mà sống. “Nỗi buồn” sẽ làm cho con người ta biết sống chịu đựng, ý chí sẽ rèn luyện cho con người ta luôn nỗ lực vươn tới, đi lên. “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn” là những câu thơ có ý nghĩa sâu sắc như một lời động viên, là động lực mà người cha muốn truyền cho con, giúp con luôn vững bước, đi xa hơn với những quyết định trong cuộc sống của tôi và luôn giữ bên mình niềm tin vào cuộc sống, sống ở đời sẽ không tránh được nỗi buồn, người biết sống cũng phải là người luôn “nuôi chí lớn” để làm cho cuộc đời, cuộc sống một điều gì có ý nghĩa sâu sắc. Đó cũng là kì vọng về tầm kích của con trong bước đường đời gian truân.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 4

Tình cha êm ấm như vầng thái dương

Ngọt ngào như dòng nước tuôn đầu nguồn

Suốt đời vì con gian lao

Ân tình đậm sâu bao nhiêu

Cha hỡi, cha già dấu yêu…

(Tình cha)

Một trong những tình cảm sâu nặng nhất trong trái tim con người đó là tình cảm gia đình, tình cảm cha con, tình cảm mẫu tử. Vì thế, đây cũng là một trong những đề tài văn học, khơi nguồn cảm hứng bất tận nhiều nhất cho những người nghệ sĩ để viết lên những áng thơ hay ca tụng công ơn của bậc sinh thành dành riêng cho con cái. Y Phương – một người dân tộc Tày với bài thơ “Nói với con” (1980) mượn lời tâm tình trò chuyện của người cha dặn dò con đã thể hiện thật thấm thía, cảm động về tình yêu thương con: vỗ về, xung quanh chở che con của người cha, mong muốn con khôn lớn thành người. Mạch xúc cảm bao trùm bài thơ là tình cảm cha con sâu nặng, thiêng liêng, đi từ tình cảm gia đình, mở rộng ra tình cảm quê, từ kỉ niệm ngọt ngào nâng lên thành lẽ sống.

Trước hết, mở đầu bài thơ là lời tâm tình của người cha nói với con về cội nguồn sinh dưỡng: con lớn lên bởi tình yêu của cha mẹ và quê. thứ nhất, người cha nói về tình cảm gia đình – cái nôi thứ nhất nuôi dưỡng người con khôn lớn trưởng thành:

“Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười”

Bằng những hình ảnh cụ thể, giàu tính chất tạo hình “chân phải”, “chân trái”, “tiếng nói”, “tiếng cười”, nhà thơ đã dựng lên trước mắt người đọc hình ảnh của một em bé đang chập chững tập đi và bi bô tập nói bên cạnh cha mẹ. Từ đó, Y Phương gợi tả được không khí gia đình thật êm ấm, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười nói của trẻ thơ. Đồng thời nhà thơ đã cho người đọc thấy được từng bước đi, từng tiếng cười nói của con đều được cha mẹ nâng niu, chăm sóc, mong chờ. Đó là tình cảm gia đình ruột thịt, là công lao trời bể lớn lao và thiêng liêng mà cha mẹ dành riêng cho con cái, muốn người con luôn phải khắc cốt ghi tâm.

Bên cạnh tình cảm gia đình, người cha muốn nói cho con biết về cội nguồn sinh dưỡng rộng lớn hơn đó là tình làng,quê nghĩa xóm:

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

Với cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi và lối diễn đạt mộc mạc, nhà thơ Y Phương đã mô tả thật chân thực, sinh động cuộc sống lao động thật nghĩa tình và thơ mộng ( nên sửa thành “cuộc sống lao động sôi động, tươi vui”) của “người đồng mình”. “Người đồng mình” là để chỉ những người vùng mình, miền mình, những người cùng sống trên một miền đất, quê, cùng dân tộc. Câu thơ sử dụng từ ngữ hô gọi “con ơi” phối kết hợp với từ tình thái “yêu lắm” ( “yêu lắm” là cụm tính từ) làm cho lời thơ trở thành ngọt ngào, chan chứa niềm tự hào với tình yêu thương quê da diết. Cuộc sống lao động chăm chỉ và vui tươi của “người đồng mình” được gợi lên qua một số những hình ảnh rất cụ thể, giàu sức gợi: “đan lờ” – dụng cụ đánh bắt cá của người dân miền núi, dưới bàn tay khéo léo đã thành “cài nan hoa”; những ngôi nhà sàn không chỉ là được dựng lên bằng những tấm ván gỗ mà còn được tạo ra bởi những “câu hát” – chiều văn hóa, lối sống của “người đồng mình”. Những động từ “đan”, “cài”, “ken” vừa có tác dụng diễn tả những động tác lao động; lại vừa cho thấy những phẩm chất chăm chỉ, chịu khó, yêu lao động, yêu cuộc sống, chan chứa niền vui của những bàn tay khéo léo, tài hoa của người dân miền núi.

Cũng nói về quê, người cha còn nhắc tới “rừng núi” và những “con đường” của “người đồng mình”:

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

Rừng không chỉ là cho gỗ, cho măng tre mà còn cho cả “hoa”. “Hoa” là sản phẩm của thiên nhiên, là sự phối kết hợp những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất, lãng mạn nhất của trời và đất mà rừng núi quê đã ban tặng cho con người nơi đây. Còn “con đường” là sợi dây links gắn bó, chặt chẽ của những “người đồng mình”. Những “con đường” ấy được tạo ra bởi những “tấm lòng” nhân hậu, bao dung. Đó là con đường ra thung ra suối, con đường vào làng vào bản, con đường tới trường, tới lớp, con đường ra ruộng, ra đồng… Chính những con đường đó đã gắn bó tình đoàn kết của những con người nơi đây (bổ sung: con đường không chỉ là mở ra hướng đi, tạo ra nhịp cầu nối con người với con người mà con đường còn “cho những tấm lòng” nhân hậu, bao dung) . Như vậy, thiên nhiên rừng núi không chỉ là ban tặng cho con người nét đẹp của tạo hóa mà còn che chở, nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn, lối sống.

Từ tình cảm quê, người cha đột ngột (ôn lại kỉ niệm đẹp đẽ về tình cảm gia đình cao đẹp, thiêng liêng) chuyển sang nói với con về tình cảm riêng tư của “ngày cưới”:

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày thứ nhất đẹp nhất trên đời.

Không ít người đã thắc mắc về sự chuyển biến đột ngột này. Y Phương san sẻ: tình cảm của những đôi trai gái, của cha mẹ được nảy nở, bắt nguồn từ tình yêu đối với quê, tình yêu đối với cuộc sống lao động. Như vậy, nhà thơ quan niệm: khi con người sống gắn bó với quê, với lao động thì con người sẽ tìm được tình yêu, hạnh phúc. Vì thế, người con từ đó được ra mắt không chỉ là là xuất phát từ sự kết tinh tình yêu của cha mẹ mà còn xuất phát từ là tình cảm rộng lớn của quê. Và quê đã cho con nghĩa tình, đã xung quanh, chở che con ngay từ khi bắt đầu con cất tiếng khóc chào đời.

từ những việc nhắc lại cội nguồn sinh dưỡng ở khổ đầu, đến khổ hai, người cha tiếp tục ngợi ca những đức tính cao đẹp của người đồng mình, gợi cho con lòng tự hào về quê, dân tộc, dặn dò con cần phát huy và sống thật xứng đáng với truyền thống của quê mình:

Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo khổ

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc.

Câu thơ đầu được điệp lại “Người đồng mình thương lắm con ơi” nhưng đã có sự thay đổi chút ít. Nếu như câu thơ ở khổ đầu là “yêu” tức là xuất phát từ tình cảm chân thành, từ trái tim tha thiết thì đến câu thơ ở khổ hai này lại là: “thương”. “Thương” là một trạng thái tình cảm không chỉ là xuất phát từ trái tim yêu thương chân thành nữa mà còn gói ghém cả sự sẻ chia, đồng cảm ở trong lòng. Chính vì thế, “người đồng mình” – những con người cùng miền đất, quê, dân tộc cùng chí hướng đã đoàn kết, gắn bó, sẻ chia và đồng cảm với nhau mà dựng xây quê mình trở thành ngày một giàu đẹp hơn.

Hai câu tiếp: Sức sống bền chắc, mạnh mẽ, kiên trì của “người đồng mình”. Nghệ thuật đối lập tương phản: ” cao đo – xa nuôi”, “nỗi buồn – chí lớn”, tác giả đã diễn tả những trạng thái không giống nhau của “người đồng mình”. “Nỗi buồn – chí lớn” là khái niệm vô hình nhưng đã được tác giả hình dung cụ thể như có hình, có khối. “Người đồng mình” buồn, lo lắng, khắc khoải ở trong lòng vì trước mắt họ là biết bao nhiêu là khó khăn, gian truân thử thách; khi mà cả quê họ còn vẫn chưa vươn tới được tầm cao nhân văn, vẫn còn đó đấy quanh quẩn với cái đói, cái nghèo. Nhưng “Người đồng mình” không khi nào nhụt chí mà mạnh mẽ, vững vàng đối diện với những khó khăn, thử thách ấy mà đưa quê tiến lên phía trước, trở thành giàu mạnh, phát triển, văn minh. Câu thơ giản dị , mộc mạc nhưng đã diễn tả được tinh thần, ý chí quật cường, mạnh mẽ của người dân vùng cao.

Niềm tự hào về con người quê gắn liền với những phẩm chất quí báu mà người cha muốn truyền cho con:

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo khổ

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc.

Nhà thơ đã sử dụng rất nhiều những hình ảnh để nói tới cuộc sống của người miền núi như: “đá gập ghềnh”, “thung nghèo khổ” “lên thác xuống ghềnh” có ý nghĩa sâu sắc diễn tả những khó khăn, vất vả, nghèo khổ và nhọc nhằn mà họ đã và đang phải đương đầu. Điệp ngữ “sống … không chê” (2 lần), phối kết hợp với nhịp thơ nhanh, dồn dập và biện pháp so sánh “như sông như suối” có tác dụng diễn tả sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, bền chắc của những người con miền núi trước cuộc sống khó khăn, vất vả khi mà chiến tranh lùi xa không được bao lâu. Qua đó, nhà thơ thể hiện niềm tự hào về “người đồng mình” với sức mạnh, ý chí thật phóng khoáng, đoàn kết, gắn bó thiết tha của họ đối với nơi chôn rau cắt rốn của tôi. Từ đó, người cha mong muốn con: phải sống có tình, có nghĩa, thủy chung với quê, giang sơn, dân tộc mình; biết đồng ý và sẵn sàng vượt qua những khó khăn, thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin tất thắng.

Đến bốn câu thơ tiếp theo mạch tâm tình nhắn nhủ của người cha dành riêng cho con vẫn được tiếp nối nhưng đã chuyển sang giọng điệu triết lí sâu sắc:

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ xíu đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê

Còn quê thì làm phong tục.

Nghệ thuật đối lập tương phản: giữa ngoại hình và tâm hồn. Hình ảnh “thô sơ da thịt” diễn tả vẻ đẹp mộc mạc, bình dị, chân chất, khẳng khái của “người đồng mình”. Nhưng họ không hề “nhỏ xíu” về tâm hồn mà rất giàu lòng tự trọng, giàu chí khí, niềm tin cao đẹp với khát vọng dựng xây, phát triển quê. Muốn vậy, “người đồng mình” phải lao động:

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê

Còn quê thì làm phong tục.

Câu thơ có hai lớp nghĩa tả thực và ẩn dụ. Và tác giả đã mô tả cuộc sống lao động của họ qua cụm từ “tự đục đá” thường thấy của người dân miền núi cao. Công việc của họ rất vất vả, nặng nhọc nhưng họ sẵn sàng tự nguyện làm vì sự phát triển của quê mình. Nhưng hình ảnh “kê cao quê” còn là hình ảnh ẩn dụ, hình tượng cho lòng tự hào, tự tôn dân tộc của “người đồng mình”. Chính những con người chăm chỉ, nhẫn nại, bằng đôi tay lao động của tôi đã làm nên quê, làm nên phong tục tập quán lâu lăm đẹp đẽ của dân tộc.

Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò người con phải tự hào về truyền thống quê, lấy những tình cảm ấy làm hành trang bước vào đời:

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không khi nào nhỏ xíu được

Nghe con.

Hình ảnh “thô sơ da thịt” được lặp lại lần hai có tác dụng khẳng định và nhấn mạnh lại niềm mong muốn của người cha dành riêng cho con: Người đồng mình tuy mộc mạc, chân chất, bình dị, bộc trực, khẳng khái nhưng không nhỏ xíu về tâm hồn, luôn vươn tới những lẽ sống cao đẹp. Vì thế, trên đường đời, con phải thật tự tin, tự hào về quê, sống xứng đáng với “người đồng mình”, không cúi đầu trước giông tố khó khăn, vất vả ở phía trước. Bởi đằng sau con luôn có tình cảm chở che, nâng đỡ của cha mẹ, gia đình, của quê và đặc biệt trong bản thân con chất chứa phẩm chất quí báu của “người đồng mình”. Hai tiếng “nghe con” ở cuối bài thơ chứa đựng biết bao nhiêu là yêu thương và niềm tin của người cha dành riêng cho con, nhẹ nhàng, xao xuyến.

Tóm lại, bằng bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhiên, bằng những hình ảnh cụ thể mà vẫn giàu chất thơ, “Nói với con” đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca tụng truyền thống chăm chỉ, sức sống mạnh mẽ của quê và dân tộc mình. Điều lớn lao nhất mà người cha truyền đến được cho con đúng là lòng tự hào về quê và niềm tự tin khi bước chân vào đời. Khi biết tự hào một cách chính đáng thì sẽ có lòng tự tin vững chắc.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 5

Ca dao từng có câu: “Công cha như núi Thái Sơn”. Có phải vì vậy mà người cha luôn khao khát những đứa con có được sự vững vàng, rắn rỏi mạnh mẽ trên đường đời. Qua bài thơ Nói với con của Y Phương, người đọc nhận thấy tình cảm và mong ước của một người cha như vậy dành riêng cho con, một thứ tình cảm nồng ấm và thiêng liêng, giản dị. Bài thơ đồng thời cũng gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người làm con.

Mượn lời một người cha nói với con, bài thơ gợi về cội nguồn của mỗi con người, đồng thời bộc lộ niềm tự hào trước sức sống mạnh mẽ, bền chắc của quê mình. Nhà thơ đã mở rộng từ tình cảm gia đình đến tình cảm quê, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống.

Mở đầu bài thơ bằng những hình ảnh cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói tiếng cười của con được cha mẹ mừng vui đón nhận:

“Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười”

Những câu thơ có cách diễn đạt thật độc đáo đã cho thấy tình yêu thương của cha mẹ đối với con. Con lớn lên hằng ngày trong tình yêu thương ấy, trong sự nâng niu, mong chờ của cha mẹ.

không chỉ là có tình yêu thương của cha mẹ, thời gian trôi qua, con trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê. Đó là cuộc sống của những “người đồng mình”, rất chăm chỉ và tươi vui:

“Người đồng mình thương lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ nhớ mãi về ngày cưới

Ngày thứ nhất đẹp nhất trong đời”.

Những từ ngữ giàu sắc thái thể hiện: Cài nan hoa, ken câu hát,… đã mô tả cụ thể cuộc sống ấy đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người quê. Rừng núi quê thơ mộng và trữ tình cũng là một trong những yếu tố nuôi con khôn lớn, nâng đỡ tâm hồn con. Thiên nhiên với những sông, suối, ghềnh, thác… đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống: “Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng”. Cách gọi “người đồng mình” đặc biệt gần gũi, thân thiết và gắn bó như gợi niềm ruột thịt yêu thương.

không chỉ là gợi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính cao đẹp của “người đồng mình”. Đó là lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là sức sống bền chắc, mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ:

“Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn”.

Dùng những từ ngữ rất mạnh mẽ như “cao”, “xa”, “lớn”, tác giả muốn nhấn mạnh cuộc sống khoáng đạt, mạnh mẽ của những “người đồng mình”. Dù khó khăn, đói nghèo còn nhiều nhưng họ không nhụt chí, ý chí của họ vẫn rất vững chắc, kiên trì:

“Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ xíu đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê

Còn quê thì là phong tục”

Những “người đồng mình” vượt qua vất vả để bám trụ lấy quê. Bằng cuộc sống lao động không mệt mỏi, họ xây dựng quê với những truyền thống cao đẹp. Những “người đồng mình” mộc mạc, thẳng thắn nhưng giàu chí khí, niềm tin…Người cha đã kể với con về quê với cảm xúc rất tự hào.

Tình cảm của người cha dành riêng cho con rất thiết tha, trìu mến. Tình cảm này bộc lộ tự nhiên, chân thực qua những lời nhắn gửi của cha cho con. Người cha muốn con sống phải có nghĩa tình, thuỷ chung với quê, biết đồng ý những khó khăn, vất vả để rất có thể:

“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo khổ

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”

Người cha mong cho con mình sống ngay thẳng, trong sáng, sống với ý chí, niềm tin để vững vàng vượt qua mọi thử thách khó khăn. Người cha mong cho con sống phải luôn tin vào khả năng của tôi, tin tưởng vào bản thân. Có như vậy, con mới rất có thể thành công, mới không thua kém ai cả Người cha đã nói với con bằng toàn bộ lòng yêu thương của tôi, nói với con những điều từ đáy lòng mình. Điều lớn nhất người cha đã truyền dạy cho con đúng là niềm tự tin vào bản thân và lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền chắc, với truyền thống của quê.

Qua những lời người cha nói với con, rất có thể thấy tình cảm của người cha đối với con thật trìu mến, thiết tha và tin tưởng. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn nói với con đúng là niềm tự hào với sức sống mạnh mẽ bền chắc của quê và niềm tin khi bước vào đời.

Bài thơ đã gợi cho người đọc những niềm cảm động sâu xa và những suy nghĩ sâu sắc. Thì ra, đằng sau những lặng lẽ, thâm trầm của cha là biết bao yêu thương, biết bao mong mỏi, biết bao hy vọng, biết bao đợi chờ … Con lớn lên như hôm nay không chỉ là nhờ vào cơm ăn và áo mặc mà còn mang nặng ân tình của những lời dạy dỗ ân cần thấm thía. Quả là:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Vậy thì, là người làm con, con xin nguyện:

“Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Chẳng những vậy, con sẽ bước theo những bước chân vững chắc mà cha để lại trên con đường cha bước đến đỉnh Thái Sơn – nguyện “sống như sông như suối”, nguyện ngẩng cao đầu “lên đường” mà không “thô sơ da thịt”. Và trên con đường ấy, con sẽ mang theo như hình ảnh quê để tiếp tục nối tiếp cha anh “tự đục đá kê cao quê” thân thiết của tôi.

Bài thơ có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật, tuy nhiên, độc đáo nhất và đặc sắc nhất là cách thể hiện, diễn tả tình cảm. Những từ ngữ, hình ảnh trong bài rất mộc mạc nhưng đồng thời cũng rất giàu hình ảnh gợi tả vừa cụ thể vừa có sức khái quát cao.

Bài thơ nhắc nhở chúng ta về tình cảm gia đình ấm cúng, ca tụng truyền thống chăm chỉ, sức sống mạnh mẽ của quê, của dân tộc. Qua lời nói với con, ta phần nào làm rõ hơn, cảm nhận sâu sắc hơn những tình cảm của người cha dành riêng cho con. Những bài học mà người cha trong bài thơ Nói với con có lẽ là những bài học mà bất kỳ người cha nào cũng muốn dạy cho con mình. Và những bài học giản dị, mộc mạc đó có lẽ sẽ theo con suốt trên chặng đường đời, bài học của cha – bài học đầy ý nghĩa sâu sắc sâu sắc.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 5 Cảm nhận về tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Cảm nhận về tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Cảm nhận về tình cha con trong bài Nói với con của Y Phương (Ngữ văn 9) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *