Top 6 Phân tích hình tượng những chiếc xe không kính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật

02-02-2021 6 883 0 0

Báo lỗi

Trong những sáng tác về người lính của nhà thơ Phạm Tiến Duật không thể không nhắc tới tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Bài thơ không những khắc họa vẻ đẹp người lính lái xe hiên ngang mạnh mẽ mà còn thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính. Đó là một phát hiện thú vị của tác giả, là góc nhìn độc đáo phản ánh về đề tài chiến tranh. Mời những bạn đọc tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã được Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

123456

1


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 1

Phạm Tiến Duật là khuôn mặt tiêu biểu cho thơ trẻ giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ông thường viết về người lính và những thanh niên xung phong, với giọng điệu thơ sôi nổi, tươi trẻ, tinh nghịch. Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969 đã vẽ lên chân dung những người lính sôi nổi, lạc quan, mà cũng cực kì anh hùng, dũng cảm.

Lối đặt nhan đề bài thơ hết sức độc đáo. Tác giả lấy từ Bài thơ để đặt nhan đề cho một bài thơ. Tưởng là thừa mà kì thực không phải như vậy, với cách đặt nhan đề đó, trước hết Phạm Tiến Duật đã để lại ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc. không những vậy, ông cũng muốn nhấn mạnh, bài thơ của tôi không những nói về hiện thực chiến tranh khốc liệt mà còn muốn nói về chất thơ trong hiện thực đó.

Chất thơ trong tâm hồn tươi trẻ, ngang tàng của người lính lái xe. Nhan đề đã khắc họa, tôn vinh vẻ đẹp của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Hình ảnh gây ấn tượng nhất với bạn đọc là hình ảnh những chiếc xe không kính, ngay với câu thơ thứ nhất, Phạm Tiến Duật đã thật hóm hỉnh khi giới thiệu về chúng:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

Câu thơ đầu sử dụng một loạt từ phủ định từ không tồn tại, không phải để rồi sau đó giải thích do bom giật, bom rung nên kính đã vỡ hết. Giọng thơ thật hóm hỉnh mà cũng thật ngang tàng. Chiếc xe ấy không những vỡ kính mà còn không tồn tại đèn, không tồn tại mui, thùng xe xước. Hình dáng chiếc xe thật méo mó đã phản ánh sự khốc liệt của chiến trường, phá hủy toàn bộ những chiếc xe đi trên cung đường Trường Sơn.

Đồng thời cũng cho thấy nhưng gian khổ mà người lính phải gắng mình vượt qua. không những vậy, ta còn nhận được sự gan góc, kiên định của người lính lái xe. Nhưng cũng chính nhờ chiếc xe không kính đó, mà người lính có thời cơ thả mình vào thiên nhiên, phát hiện vẻ đẹp của đất trời, làm cho tình đồng chí, đồng đội trở thành gắn bó và khăng khít hơn.

Trên tuyến đường Trường Sơn hết sức gập ghềnh chứa đầy hiểm nguy, ta không những thấy nổi trội hình ảnh những chiếc xe không kính, mà nổi trội và đẹp đẽ hơn cả là chân dung những người lính lái xe. Trước hết họ hiện lên trong tư thế ung dung, hiện ngang: Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng. Chữ ung dung được đảo lên đầu câu, nhấn mạnh vào tư thế chủ động, bình tĩnh, tự tin của người lính. Điệp từ nhìn, cùng thủ pháp liệt kê với lối mô tả hiện thực trần trụi, không tránh mặt, đã khắc họa những gian khổ mà họ phải đương đầu. Tuy nhiên, họ không hề tránh mặt mà kiên định, anh dũng đối mặt với những hiểm nguy, thử thách ấy.

Họ còn mang trong mình tinh thần lạc quan, sôi nổi, tinh thần tươi trẻ, hóm hỉnh. Hiện thực cực kì gian khổ: bụi, mưa Trường Sơn dưới con mắt họ không thể là những thử thách, khó khăn mà nó trở thành thời cơ để họ giao hòa với thiên nhiên. Giọng điệu hóm hỉnh, đầy vui đùa: ừ thì có, không tồn tại, vẫn chưa cần đã làm mờ đi cái khắc nghiệt của chiến tranh, cái nhìn trở thành lạc quan, tươi vui hơn.

Trải qua nhiều gian khó, đối với họ tình cảm đồng đội thật thiêng liêng, trân quý. Tình cảm ấy, không thể hiện bằng lời nói ngọt ngào mà chỉ đơn thuần là cái bắt tay vội vã khi gặp nhau giữa đường. Cái bắt tay ấy giúp họ san sẻ mọi khó khăn, gian khổ, tiếp cho họ thêm sức mạnh để tiếp tục chiến đấu trên những chặng đường phía trước. Lời động viên thầm lặng mà nồng ấm, có sức mạnh to lớn, không gì rất có thể thay thế được. Sự gắn bó của họ không những dừng lại ở tình cảm đồng chí, đồng đội, ở tình cảm bè bạn mà đã được nâng lên một thứ tình cảm khác thiêng liêng, quý báu hơn đó là tình cảm gia đình: Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời/ Chung bát đĩa tức là gia đình đấy.

Giữa những khói bom lửa đạn của chiến tranh, họ vẫn dành riêng cho nhau chút thời gian ngắn ngủi để cùng nhau ăn bữa cơm. Dù bữa cơm trắng có phần đạm bạc nhưng lại êm ấm tình người. Bữa cơm ấy đã xóa nhòa khoảng cách, khiến những con người xa lạ trở thành những người anh em ruột thịt. Bữa cơm đã tiếp thêm vào cho họ sức mạnh tinh thần để lại đi lại đi trời xanh thêm. Điệp từ lại đi được lặp lại hai lần cho thấy những đoàn xe nhịp nhàng nối đuôi nhau ra trận trong không khí khẩn trương. Hình ảnh ẩn dụ trời xanh thêm vào cho chúng ta thấy tinh thần lạc quan, yêu đời, thú vui phơi phới của những chiến sĩ. Đồng thời màu xanh đó cũng tượng trưng cho tương lai mong muốn vào trong ngày mai tất thắng của dân tộc.

Khổ thơ sau cùng, một lần nữa khắc họa, khẳng định ý chí chiến đấu vì miền Nam, vì độc lập của tổ quốc. Ba câu thơ đầu, Phạm Tiến Duật đề cập đến những cái không của những chiếc xe: không tồn tại kính, không tồn tại đèn, thùng xe xước. Nhưng chính cái không ấy để đến câu thơ sau cùng ông làm nổi trội lên cái có: chỉ việc trong xe có một trái tim.

Trái tim nồng ấm, nhiệt thành trở thành nhãn tự, làm bừng sáng cả bài thơ. chỉ việc trong những chiếc xe đó có trái tim của những người chiến sĩ thì mọi khó khăn, gian khổ đều rất có thể vượt qua để đi đến thắng lợi sau cùng. Hình ảnh người lính lái xe là đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam, là hình tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng giai đoạn chống Mỹ cứu nước.

Tác giả sử dụng thể thơ tự do đậm chất văn xuôi khiến mẩu truyện về người lính được thuật lại thật tự nhiên, hóm hỉnh. Hình ảnh thơ chân thực. Ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ tự nhiên, như lời ăn tiếng nói mỗi ngày nên dễ đi vào lòng người. Giọng điệu: vừa ngang tàng, trẻ khỏe vừa hài hước, dí dỏm.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã xây dựng cực kì xuất sắc chân dung những người lính với biết bao phẩm chất đẹp đẽ, đáng tự hào, ngợi ca. Trái tim nồng cháy của họ còn tỏa rạng đến muôn thế hệ sau. Họ đó là tấm gương để chúng ta, thế hệ trẻ học tập và noi theo để xây dựng tổ quốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 2

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Vâng, đó là khí thế hăm hở, mạnh mẽ, hào hùng của những chàng dũng sĩ mặc áo lính, khoác áo chiến sĩ trong cuộc kháng chiến trường kì chống đế quốc Mĩ xâm lược. Và cũng góp mình vào công cuộc bảo vệ tổ quốc, vì hòa dân dã tộc ấy, Phạm Tiến Duật – một nhà tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam, cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Nguyễn Đức Mậu… đã vừa cầm súng, lại vừa cầm bút, dùng tiếng thơ của tôi làm bàn xoay cơ chế, mỗi vần thơ là bom đạn phá cường quyền.

Để rồi khi người ta nhắc tới Phạm Tiến Duật thì những bài thơ viết về người lính, về những cô nàng thanh niên xung phong mười tám, đôi mươi cứ lần lượt hiện lên trong tâm trí như: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Gửi em cô thanh niên xung phong, Lửa đèn… và Trong số đó tiêu biểu có “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Đến với bài thơ, chúng ta thấy được vẻ đẹp của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa với biết bao phẩm chất tuyệt vời như: dũng cảm, hiên ngang, mạnh mẽ, kiên định và pha chút hóm hỉnh, tươi vui. Đồng thời, qua tác phẩm, người đọc thấy được sự tàn khốc của hiện thực chiến tranh, in hằn lên hình hài dáng vóc của người lính và đặc biệt là sự trần trụi đến hoang tàn của những chiếc xe không kính bị bom mìn tàn phá.

Thực ra, trước Phạm Tiến Duật đã có rất nhiều phương tiện giao thông đã được những nghệ sĩ đưa vào trong thơ của tôi. Đó là hình ảnh của một con tàu tiến lên tây-bắc trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:

tây-bắc ư? Có riêng gì tây-bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là tây-bắc, chứ còn đâu.

Hay đó là con thuyền tiến ra khơi đánh bắt cá của những người ngư dân miền chài lưới trong bài thơ “quê nhà” của Tế Hanh, “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận…

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đàn thế trận lưới vây giăng.

Nhưng toàn bộ những xe cộ, tàu thuyền ấy khi đi vào thơ đều được lãng mạn hóa, mang một ý nghĩa sâu sắc hình tượng nào đó. Còn những chiếc xe không kính của Phạm Tiến Duật lại xuất phát từ hình ảnh có thực, thật đến trần trụi, “sống sít”, chỉ có trong chiến trường Trường Sơn giai đoạn chống Mĩ.

thứ nhất, hình ảnh những chiếc xe không kính gây ấn tượng khác lạ và độc đáo thuở đầu nơi người đọc qua cách đặt nhan đề của Phạm Tiến Duật: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Nhan đề khá dài, có vẻ như có chỗ thừa nhưng chính cái điểm ấy mà tạo ra cái độc lạ, thú vị sự để ý của bạn đọc. Tác giả đã thêm vào nhan đề tác phẩm hai chữ “bài thơ”, điều đó cho thấy được chất thơ trong bài thơ, đồng thời cho thấy được cái nhìn lãng mạn của tác giả trước hiện thực khốc liệt của chiến tranh về những chiếc xe không kính do bom rơi, đạn lạc.

Và với cách đặt nhan đề bài thơ như vậy, Phạm Tiến Duật cũng muốn nhấn mạnh đến những chiếc xe không kính trong khói lửa chiến tranh chỉ có ở chiến trường miền Nam thời kháng chiến chống Mĩ có rất nhiều, rất đông trở thành cả một “tiểu đội xe không kính”. Từ đó, nhà thơ làm nổi trội lên sự tàn khốc của chiến tranh và tinh thần hiên ngang, dũng cảm, sôi nổi và tươi trẻ của người lính khi lái những chiếc xe không kính bon bon ra chiến trường. Cho nên, ngay nhan đề thơ đã gợi mở chủ đề, tạo được giọng điệu, sắc thái thẩm mĩ riêng cho toàn bộ bài thơ: hóm hình, tươi vui, tinh nghịch, rất lính tráng.

Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu về hình ảnh của những chiếc xe không kính vẫn băng băng tiến ra chiến trường. Tác giả chỉ ra nguyên nhân của những chiếc xe không tồn tại kính bằng một câu thơ văn xuôi rất tự nhiên, rất chân thực:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Dòng thơ đầu, gồm có mười chữ với giọng điệu bướng bỉnh, ngang tàng, khai mở chủ âm của toàn bài. Tác giả đã biến cái không bình thường thành bình thường, thậm chí như thú vị trước điều đó. Đây là những chiếc xe đã đi qua bom đạn thử thách – “bom giật bom rung” là cái khốc liệt của chiến trường làm xe bị hư hại. Điệp từ “không” được lặp lại ba lần trong một dòng thơ phối kết hợp với động từ mạnh “giật” , “rung” vừa có ý nghĩa sâu sắc giải thích nguyên nhân xe không tồn tại kính, lại vừa có ý nghĩa sâu sắc nhấn mạnh đến sự dữ dội, tàn phá khủng khiếp của chiến tranh. Và sự tàn phá ấy không những gây “thương tật” cho một chiếc xe mà còn tạo ra những tiểu đội xe không kính:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Không dừng lại ở đó, trong chiến tranh bom rơi đạn lạc, những chiếc xe không những bị vỡ kính mà còn bị biến dạng trở thành biến dạng thêm, trần trụi hơn nữa:

không tồn tại kính, rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe, thùng xe có xước

Điệp từ “không tồn tại…” phối kết hợp với cách liệt kê hình ảnh những bộ phận thiếu thốn của xe “kính, mui, đèn, thùng xe” đã cho thấy cái nhìn rất chân thực về chiến tranh. Đó là sự tàn phá cực kì tàn khốc của bom rơi, đạn lạc nơi chiến trường xa xôi. Nhưng, bộ não, linh hồn của xe có vẻ như không phải là máy móc, mà là tấm lòng người chiến sĩ, nên:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

chỉ việc trong xe có một trái tim.

Dù bom đạn đã phá hủy toàn bộ chiếc xe, nhưng “trái tim” ” của người chiến sĩ lái xe là một động cơ hoàn hảo, rất có thể thay thế cho toàn bộ những cái “không tồn tại” phía trên của những chiếc xe hư hỏng, trần trụi. toàn bộ vì một mục tiêu cao quý mà người lính lái xe đã xác định cho mình “vì miền Nam” ruột thịt.

Đến đây, chúng ta nhận thấy một điều, chắc rằng Phạm Tiến Duật phải là một hồn thơ nhạy cảm, có nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái mới lạ thì mới rất có thể nhận thấy được và đưa những chiếc xe không kính vào trong thơ, trở thành hình tượng độc đáo của giai đoạn chiến tranh chống Mĩ tuyệt vời đến như vậy. Hình ảnh này tạo ra cái tứ lạ, độc đáo, vừa nói lên cái ác liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ lái xe trên tuyến lửa Trường Sơn: dũng cảm, hiên ngang, tếu táo, tinh nghịch, rất lính tráng…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 3

Trong văn học kháng chiến, viết về người lính có rất nhiều, nhưng viết những phương tiện giao thông như những chiếc xe chuyên chở lương thực, đạn dược lại rất ít. Ta bắt gặp những chiếc xe lạ lùng trong câu ca dao:

Xe đâu xe lạ xe lùng

Đầu xe thì bẹp, chắn bùn lại không

Chỗ ngồi như tựa bàn chông

Thùng xe gỗ mục cực kì thảm thương

Đêm nào cũng chạy trên đường

Kế hoạch vượt mức chẳng nhường cho ai

Góp phần khắc họa sâu hơn nữa sự bất thường về vẻ bề ngoài của những chiếc xe, Phạm Tiến Duật cũng có thể có một tác phẩm nói về những chiếc xe ấy mang tên Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Bài thơ không những để lại ấn tượng trong lòng người đọc về những người lính lái xe dũng cảm, hiên ngang mà còn bởi hình tượng những chiếc xe cực kì lạ và độc đáo.

Ngay từ nhan đề bài thơ hình ảnh những chiếc xe không kính đã xuất hiện, gây ấn tượng, sự tò mò với người đọc. Những chiếc xe ấy vốn hình thù ra sao, chúng làm những nhiệm vụ gì ? Câu thơ mở đầu là hàng loạt những phủ định từ:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Câu thơ như lời ăn tiếng nói mỗi ngày, như buột miệng mà thành thơ. Câu thơ đầu khẳng định những chiếc xe này vốn vẫn có kính như những chiếc xe bình thường khác. Và để lí giải vì sao hiện tại những chiếc xe có hình thù như vậy, ở câu thơ thứ hai tác giả đã khẳng định: bom giật, bom rung nên kính đã bị vỡ. Chữ bom xuất hiện hai lần phối kết hợp với động từ giật, rung đã cho ta thấy sự tàn khốc của chiến tranh, sự tán phá dữ dội của bom đạn, đã hủy hoại những chiếc xe không kính. không những vậy, Phạm Tiến Duật còn khắc họa rõ nét sự biến dạng của những chiếc xe không kính:

không tồn tại kính rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe, thùng xe có xước

Điệp từ không tồn tại phối kết hợp với biện pháp liệt kê đã nhấn mạnh vào những khó khăn, thiếu thốn mà mỗi người chiến sĩ phải đương đầu, cố gắng vượt qua. Những khó khăn ấy cứ anh xã chất lên nhau, như thử thách sự bền chắc, kiên định của người chiến sĩ. Đồng thời những hình ảnh ấy cũng góp phần làm nổi trội sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, khiến những chiếc xe mang đầy thương tích. Nhưng chính những chiếc xe đầy thương tích, giá như không thể vượt qua được bom đạn của chiến tranh nữa lại vẫn mỗi ngày băng băng ra trận tuyến, mang trong mình trái tim, lý tưởng cao đẹp: chiến đấu vì miền Nam phía trước. Chiến tranh chỉ rất có thể phá hủy hình dạng phía bên ngoài của những chiếc xe chứ không thể hủy hoại ý chí, nhiệt huyết trong chúng.

Những chiếc xe không kính, bị tàn phá nhưng chính nó đã tạo điều kiện, thời cơ để những chiến sĩ giao hòa với thiên nhiên. Những cơn gió, đàn chim, ánh sao trời ùa vào buồng lái, đồng hành cùng họ trên suốt chặng đường ra mặt trận. không những vậy từ những ô cửa kính vỡ cũng là thời cơ để những người lính tiếp thêm sức mạnh cho nhau, tạo ra động lực để họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ: Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

Những chiếc xe không kính là hình tượng nổi trội, là sáng tạo độc đáo có một không hai của nền văn học Việt. Với những nét vẽ chân thực đến mức trần trụi, cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Đồng thời hình ảnh những chiếc không kính cũng trở thành bức phông nền làm nổi trội vẻ đẹp ngang tàng, ý chí chiến đấu kiên định của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 4

Tác giả Phạm Tiến Duật là một người lính, nhà văn tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược. Vừa cầm súng, vừa cầm bút dùng tiếng thơ của tôi để góp phần vào công cuộc bảo vệ nền hòa bình độc lập dân tộc. Trong những tác phẩm về người lính của Phạm Tiến Duật không thể không nhắc tới tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Bài thơ không những khắc họa vẻ đẹp người lính lái xe hiên ngang mạnh mẽ mà còn thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính.

Những chiếc xe không kính của Phạm Tiến Duật là hình ảnh có thật, và thật đến trần trụi, chỉ có ở trên tuyến đường Trường Sơn những năm tháng tổ quốc kháng chiến chống Mỹ. Cách đặt nhan đề bài thơ đã gây ấn tượng thứ nhất đối với người đọc. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhan đề khá dài và tác giả thêm vào hai chữ “bài thơ” nhằm muốn khẳng định và nhấn mạnh chất thơ có trong bài thơ, thể hiện được tâm hồn và cái nhìn lãng mạn của tác giả trước hiện thực chiến tranh khốc liệt, gian khổ.

Bên cạnh đó nói về cả “tiểu đội xe không kính” là tác giả muốn nhắc tới số lượng những chiếc xe bị tàn phá ấy có rất nhiều, rất đông. Qua những đặt nhan đề đã gợi tả được sự tàn khốc của chiến tranh, tinh thần hiên ngang bất khuất và lạc quan của người lính lái xe. Những chiếc xe không kính vẫn băng băng ra chiến trường, mà nguyên nhân xe không tồn tại kính đó là:

“không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Đây là những chiếc xe đã đi qua thử thách của bom đạn trong sự khốc liệt của chiến trường. Điệp từ “không” nhấn mạnh tư thế chủ động của người lính, biến cái không bình thường thành bình thường và thú vị hơn. Đồng thời nhấn mạnh sức tàn phá dữ dội của bom mìn trong chiến tranh. Nhiều những xe bị tàn phá tới nỗi tạo ra những tiểu đội xe không kính:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội”

Tác giả đã bóc trần trụi thực sự về chiếc xe không kính bị biến dạng và thiếu thốn đủ thứ:

“không tồn tại kính, rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe, thùng xe có xước”

Điệp từ “không tồn tại” rồi liệt kê những bộ phận của xe đã dựng lên hình ảnh chiếc xe bị tàn phá nghiêm trọng trong chiến tranh. Tuy nhiên tác giả đã khẳng định rằng linh hồn của chiếc xe không nằm ở chi tiết máy móc, phụ kiện mà là ở tấm lòng người chiến sĩ:

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

chỉ việc trong xe có một trái tim”

Dù cho bom đạn có phá hủy chiếc xe tới mức nào nhưng chỉ việc trái tim của người lính lái xe vẫn tồn tại sẽ thay thế cho toàn bộ những bộ phận đã mất đi của xe. toàn bộ hướng về mục tiêu của Tổ quốc, vì miền Nam ruột thịt.

Tác giả Phạm Tiến Duật đã đưa những chiếc xe không kính vào trong thơ, trở thành hình tượng độc đáo cho giai đoạn chống Mỹ của việt nam. Những chiếc xe vừa phơi bày hiện thực chiến tranh khốc liệt và dữ dội, vừa tô đậm vẻ đẹp của những người lính lái xe hiên ngang, bất khuất và lạc quan.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 5

“Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận. Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác” (trích “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”). Những câu ca quen thuộc do tác giả Huy Thục sáng tác đã tái hiện thành công những đoàn quân ra trận với trái tim yêu nước mãnh liệt. Trên những tuyến đường hành quân đó, không những có những đoàn bộ đội, dân công mà còn có những tiểu đoàn xe “bon bon” chạy để tiến hành nhiệm vụ kháng chiến. Điều này đã được tác giả Phạm Tiến Duật làm nổi trội trải qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, tạo ra một hình tượng độc đáo, đặc sắc và giàu ý nghĩa sâu sắc về hình tượng những chiếc xe không kính.

Trước hết, hình tượng những chiếc xe không kính là hình ảnh thực, gần gũi, quen thuộc thường xuyên xuất hiện trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Trên tuyến đường Trường Sơn huyết mạch, những chiếc xe vẫn thẳng tiến đi qua những mưa bom bão đạn, vượt qua những hố bom, sự truy lùng bắn phá của giặc để tiến hành nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.

Trên những chiếc xe không những chứa đựng lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược mà còn gửi gắm sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia của miền Bắc đối với “miền Nam ruột thịt”. Bởi vậy, dù có bao nhiêu khó khăn, hình ảnh những chiếc xe vẫn gắn liền với sự xông pha và chiến đấu hết mình, giống như nhạc sĩ Ánh Dương từng mô tả trong khúc ca “Chào em cô nàng Lam Hồng”: “Xe ta bon trên những dặm đường giữa làng quê ta băng qua bao suối đèo, đồi nương (mà) xe ta bon ra chiến trường”.

từ những việc là hình ảnh quen thuộc, gần gũi trên tuyến đường Trường Sơn, hình tượng những chiếc xe không kính đã gợi lên hiện thực tàn khốc cũng như những khắc nghiệt, gian khổ, thiếu thốn của cuộc sống nơi chiến trường. Ngay từ những câu thơ thứ nhất, tác giả Phạm Tiến Duật đã làm nổi trội điều này:

“không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Từ phủ định “không tồn tại” được điệp lại hai lần cùng cách kiến tạo câu thơ theo lối nói khẩu ngữ và mang tính văn xuôi đã khẳng định sự thiếu thốn những chiếc kính của tiểu đoàn xe. Đồng thời, những điệp ngữ “bom giật, bom rung” được láy lại hai lần đã thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh – nơi mà mưa bom bão đạn luôn xuất hiện bất kỳ lúc nào. không những có hiểm nguy, những chiếc xe không kính còn gợi lên biết bao sự gian khổ và khắc nghiệt mà quân và dân ta phải đối mặt trong những năm tháng chiến tranh:

“không tồn tại kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già”

Hay như:

“không tồn tại kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời”

Biện pháp điệp cấu trúc câu “không tồn tại…, ừ thì” phối kết hợp với những hình ảnh “gió”, “bụi”, “mưa” trong biện pháp tu từ so sánh: “Bụi phun tóc trắng như người già”, “Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” đã làm nổi trội sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng như của trận chiến đấu. Và theo tháng năm, đi qua lửa đạn bom rơi, những chiếc xe càng trở thành biến dạng, thiếu thốn hơn nữa:

“không tồn tại kính, rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe, thùng xe có xước”

Tác giả Phạm Tiến Duật đã sử dụng thành công thủ pháp liệt kê: “không tồn tại kính”, “không tồn tại đèn”, “không tồn tại mui xe”, “thùng xe có xước” để mô tả một chiếc xe không thể vẹn nguyên, trơ trọi, dần thiếu đi những bộ phận quan trọng và thiết yếu, từ đó làm nổi trội sự tàn phá dữ dội của bom đạn chiến tranh.

không những dừng lại ở đó, hình tượng những chiếc xe không kính còn là hình ảnh ẩn dụ biểu trưng cho vẻ đẹp của những người lính lái xe – “trái tim người cầm lái”. Bên trong những buồng lái không kính là những con người luôn nắm chắc tay lái với tư thế hiên ngang, ung dung:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Họ nhìn thấy những hiểm nguy đang đón đợi phía trước nhưng vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, điềm tĩnh để dũng cảm, kiên định đối mặt với những gian khổ và hi sinh. Họ vượt qua những điều đó bằng thái độ ung dung, thậm chí luôn tràn trề niềm tin và hy vọng qua những hành động như: “vẫn chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa/ Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Lối nói khẩu ngữ đậm chất văn xuôi đã giúp tác giả phác họa thành công vẻ đẹp lạc quan phơi phới, yêu đời và pha chút ngang tàn của người lính lái xe.

Cũng trên những chiếc xe đó, những người lính đã sẻ chia cùng nhau những khó khăn bằng tinh thần đồng đội qua việc “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Đặc biệt, bên trong những chiếc xe không kính là “trái tim người cầm lái” tràn trề tinh thần yêu nước, lòng nhiệt huyết và lí tưởng cách mạng cao quý một lòng chiến đấu, không ngại gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì miền Nam: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước / chỉ việc trong xe có một trái tim”

Như vậy, trải qua hình tượng những chiếc xe không kính, chúng ta cũng rất có thể thấy được hiện thực khốc liệt nơi chiến trường cũng như sự tàn phá, tàn phá của chiến tranh cùng vẻ đẹp của những người lính lái xe giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. toàn bộ đã được làm nổi trội trải qua thể thơ tự do, sự phối kết hợp nhuần nhuyễn những biện pháp tu từ và ngôn ngữ, giọng điệu thơ mang tính khẩu ngữ pha chút ngang tàn và dí dỏm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích hình tượng những chiếc xe không kính số 6

Hình ảnh những chiếc xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã góp phần hiện thực hóa cái khốc liệt, trần trụi của chiến tranh thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “mĩ lệ hóa”, “lãng mạn hoá” và thường mang ý nghĩa sâu sắc tượng trưng hơn là tả thực. Người đọc đã bắt gặp chiếc xe tam mã trong thơ Pus-kin, con tàu trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ cùng tên của Huy Cận. Còn những chiếc xe không kính trong thơ Phạm Tiến Duật lại là hình ảnh thực, thực đến trần trụi. Tác giả giải thích nguyên nhân cũng rất thực “Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”.

Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được mô tả cụ thể, chi tiết rất thực. Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là trong địa hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng. Ấy thế mà chuyện “xe không kính” lại là một trong thực tiễn, là hình ảnh thường gặp trên tuyến đường Trường Sơn. Hai câu thơ mở đầu rất có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.

Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của những chàng trai lái xe dũng cảm. Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ. Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung”, tác giả đã lí giải nguyên nhân không tồn tại kính của những chiếc xe.

không tồn tại kính rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe thùng xe có xước

Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở thành biến dạng “không tồn tại kính”, “không tồn tại đèn”,“không tồn tại mui xe”,“thùng xe có xước”. Bằng thủ pháp liệt kê và hiện thực hoá, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về trận chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua. Nhưng bộ não, linh hồn của xe có vẻ như không phải máy móc, mà là tấm lòng người chiến sĩ, nên “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước – chỉ việc trong xe có một trái tim”.

Hình ảnh những chiếc xe không kính không phải hiếm trong chiến tranh, nhưng phải có hồn thơ nhạy cảm, có nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái lạ như Phạm Tiến Duật mới nhận thấy được và đưa nó vào thơ trở thành hình tượng độc đáo của thơ thời chiến tranh chống Mỹ. Hình ảnh này tạo ra cái tứ lạ, độc đáo, vừa tạo ra cái ác liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ trong trận chiến đấu khốc liệt chống đế quốc Mỹ. Hình tượng này góp phần khắc họa một nét tư thế, chân dung của một dân tộc anh hùng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 6 Phân tích hình tượng những chiếc xe không kính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, Top 6 Phân tích hình tượng những chiếc xe không kính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, Top 6 Phân tích hình tượng những chiếc xe không kính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *