Top 8 Bài văn phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất

19-05-2021 8 1 0 0

Báo lỗi

Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là một bài thơ hay viết vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được nhà thơ viết tại TP.Hồ Chí Minh in trong tập “Ánh trăng”. Tác phẩm là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên giang sơn bình dị và hiền hậu. Qua đó, tác giả muốn nhắn gửi tới người đọc hãy sống thủy chung, ân tình với quá khứ. Mời những bạn đọc tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích 2 khổ thơ đầu của bài thơ mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết sau.

12345678

1


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 1

Trăng từ lâu trở thành đề tài muôn thuở nhưng không lúc nào cũ trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam. Đến với trăng, khó ai hoàn toàn có thể kìm lòng trước vẻ đẹp của nó. Nếu đến với trăng của những nhà thơ lớn của dân tộc như Thế Lữ có ” Nhớ rừng”; ”Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu hay ”Rằm tháng giêng, Cảnh khuya, Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh…ta đều thấy xuất hiện trước mắt một bức tranh đêm trăng đầy thơ mộng, bí hiểm và huyền ảo. Thế nhưng, đến với ”Ánh Trăng” của Nguyễn Duy, ta lại bắt gặp một tư tưởng hoàn toàn mới lạ. Trăng ở đây là quá khứ thuỷ chung, bất diệt; là người bạn nghĩa tình, tri kỉ; là bài học thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc.

Hai khổ thơ đầu là những kỉ niệm đẹp, những tình cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ. Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức tuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh: Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Bốn câu thơ gắn với giọng đọc thủ thỉ, tâm tình “hồi nhỏ”, “chiến tranh” đã gợi lại một quãng thời gian dài từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành và nhất là trong những năm tháng gian lao thời chiến tranh. Cả một thời gian dài có biết bao nhiêu kỉ niệm đẹp với trăng.

Khổ thơ mở ra một không gian, thời gian bao la. Trong dòng hồi tưởng, tác giả đã khái quát vẻ đẹp của cuộc sống bình dị, vô tư, hồn nhiên, khẳng định tình cảm bền chặt gắn bó của con người với vầng trăng là “tri kỉ”, “tình nghĩa”. Trăng là người bạn sẻ chia mọi vui buồn, trăng đồng cam cộng khổ, xoa nhẹ những đau thương, nham nhở của chiến tranh bằng thứ ánh sáng mát dịu… Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của ký ức chan hoà tình nghĩa… Điệp từ “với”, điệp cấu trúc “hồi nhỏ, hồi chiến tranh” được lặp lại ba lần càng tô đậm thêm sự gắn bó chan hòa của con người với thiên nhiên, với những tươi đẹp của tuổi thơ. “Hồi chiến tranh ở rừng” là những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh,“vầng trăng thành tri kỉ”.

Câu thơ được sử dụng nghệ thuật nhân hóa, trăng giống như người bạn tri kỷ thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng sẻ chia những vui buồn trong chiến trận với người lính – nhà thơ. Họ hành quân giữa đêm, trên những nẻo đường chông gai ra mặt trận, những phiên gác giữa rừng khuya lạnh lẽo, những tối nằm yên giấc dưới màn trời đen đặc, người lính đều có vầng trăng bên cạnh. Trăng ở bên, bầu bạn, cùng cảm nhận cái giá buốt nơi “Rừng hoang sương muối” (Đồng chí), cùng trải qua bao gian khổ của cuộc sống chiến đấu, cùng chia ngọt sẻ bùi,đồng cam cộng khổ; cùng hân hoan trong thú vui thắng trận, cung xao xuyến, bồn chồn, khắc khoải mỗi khi người lính nhớ nhà, nhớ quê… Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn, Nguyễn Duy đã dựng lại được cả thời niên thiếu cho tới lúc trưởng thành của tôi. Khổ thơ nhẹ nhàng đưa người đọc lần về quá khứ, hai chữ “hồi ở câu một và ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân. Cái dừng chân giữa ranh giới của ấu thơ và lúc trưởng thành!

Cả một hệ thống những đồng, sông, bể gọi một vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, nó cứ mở rộng dần ra cùng với thời gian lớn dần lên của đứa trẻ. Nhưng cái đó là nó diễn tả một nỗi niềm sung sướng đến hả hê được chan hoà, ngụp lặn trong cái mát lành của quê nhà như dòng sữa ngọt. Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng – sông) phối hợp cùng từ “với” điệp lại ba lần gợi lên cái thế bè đôi thật quấn quýt sẻ chia, cảm thông, dìu đỡ con người, và đồng hay sông, rồi bể như những người bạn vô tư. ở hai câu đầu không thấy nói về vầng trăng. Chỉ đến khi lớn lên, cái ánh sáng bàng bạc mơ hồ của ánh trăng mới neo đậu vào trí nhớ con người khi phải xa cách quê nhà.Và người dẫn đường chỉ lối cho dòng suy nghĩ ấy đó là ánh trăng. có vẻ như cái ánh sáng cao khiết ấy soi rọi đến từng ngõ ngách khiến con đường trở về quá khứ trở thành sáng rõ. Vầng trăng đối với người cầm súng ở trong rừng đã thay thế cho toàn bộ, cả đồng, sông, bể để trở thành một người bạn đồng hành, thành vầng trăng tri kỉ: hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ “Tri kỉ” là biết người như biết mình, bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình.

Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh trở thành hai bạn tri kỉ. Trăng đã chia ngọt sẻ bùi hân hoan trong thú vui thắng trận của người lính tiền phương. Nếu những tao nhân xưa thường “đăng lâu vọng nguyệt” thì anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều lần đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi hay đứng canh chờ giặc giữa rừng khuya sương muối cũng say sưa ngắm vầng trăng cao nguyên. Càng thú vị biết bao, cái vầng trăng từng làm mê đắm bao tâm hồn thi nhân của mọi thời đại hiện lên trong lời thơ của Nguyễn Duy vẫn rất mới mẻ, không hề trùng lặp: Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây xanh ngỡ không lúc nào quên cái vầng trăng tình nghĩa Vầng trăng hiện lên với vẻ đẹp hoang sơ mà gần gũi. Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bạn hữu. Vầng trăng là hình tượng đẹp cho những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, giang sơn bình dị, hiền hậu. Cái vầng trăng tình nghĩa ấy đã từng khiến tác giả ngỡ không lúc nào quên. Mạch thơ vẫn được tiếp nối tựa như người bộ hành tiếp tục chuyến đi sau lúc nghỉ chân. ánh trăng vẫn len lỏi, quấn quýt và có phần nồng nàn, đậm sắc hơn. Lời thơ vẫn thủ thỉ, tâm tình nhưng có vẻ như đã xuất hiện những biến chuyển trong lời tâm sự của tác giả ngỡ không lúc nào quên. Phép liên tưởng đầy tính nghệ thuật “trần trụi với thiên nhiên”, so sánh độc đáo “hồn nhiên như cây xanh” cho ta thấy rõ hơn vẻ đẹp bình dị,mộc mạc,trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng.

Đó cũng đó là hình ảnh con người lúc bấy giờ: vô tư, hồn nhiên, trong sáng. “không…quên…vầng trăng tình nghĩa” thể hiện tình cảm thắm thiết với vầng trăng. Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành,cả trong hạnh phúc và gian lao. Trăng là vẻ đẹp của giang sơn bình dị, hiền hậu; của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng. Vầng trăng không những trở thành người bạn tri kỉ, mà trở thành “vầng trăng tình nghĩa” hình tượng cho quá khứ nghĩa tình. Vầng trăng được nhân hóa để trở thành người bạn tri kỉ với nhân vật trữ tình của bài thơ. Sự gắn bó tình nghĩa ấy nhà thơ đã từng tâm niệm “không lúc nào quên”. Giọng thơ hồi tưởng đều đặn nhưng từ “ngỡ” như báo hiệu sự xuất hiện của những biến chuyển trong mẩu truyện của nhà thơ. Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, có vẻ như nguồn cảm xúc của tác giả vẫn đang tràn đầy.

Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong những năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bè bạn,trăng gắn bó sâu nặng với con người mà không trở lực nào hoàn toàn có thể ngăn cách. Những năm tháng con người sống thật nhất với mình, trần trụi,hồn nhiên là khi con người ta trân trọng, đinh ninh một lời thề son sắt “ngỡ không lúc nào quên,cái vầng trăng tình nghĩa” Từ ngỡ là chiếc cầu nối ngôn từ vừa khép lại thời quá khứ vừa mở ra thời hiện tại tạo ra sự chuyển tiếp cho khổ thơ tiếp theo.

Nhắc đến thơ Nguyễn Duy, có người nhận xét: ”Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, tha thiết cái hồn, cái vía của dân ca, ca dao Việt Nam. Những bài thơ của ông không cố gắng tìm những hình thức mới mẻ mà đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Duy cũng không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi còn hơi” bụi” tương thích với ngôn ngữ thường nhật”. Quả đúng như vậy! Chỉ qua bài ” Ánh trăng” ta cũng đủ để thấy được tài hoa trong nghệ thuật viết thơ của Nguyễn Duy.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 2

Vầng trăng dịu mát, sáng trong, vầng trăng huyền diệu tròn đầy tự lúc nào trở thành thân thương gắn bó với con người. Nếu vị thi tiên Lý Bạch khi xa quê đã không thể quên ánh trăng trên đỉnh núi Nga Mi:

“Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương

Nếu Bác kính yêu coi trăng như bè bạn tri âm “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” thì Nguyễn Duy nhà thơ trưởng thành thời kháng chiến chống Mỹ lại coi trăng là nguồn sáng lung linh để thanh lọc tâm hồn, để ăn năn hối lỗi. Bài thơ “Ánh trăng” (1978) của ông được khơi nguồn từ những cảm xúc chân thành và cao đẹp như thế. Bài thơ mang dáng dấp như một mẩu truyện với lời kể mở đầu tự nhiên, trôi chảy về mối quan hệ gắn bó giữa trăng và nhà thơ:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Chỉ bằng 4 câu thơ ngắn Nguyễn Du đã dựng lại được cả thời niên thiếu cho tới lúc trưởng thành, một không gian thân thương: đồng, sông, bể.Từ không gian đầy ắp kỉ niệm ấy ta nhận thấy niềm say mê,sảng khoái của con người trong cái mát lành dịu ngọt ân tình của quê nhà qua ánh trăng lai láng trên cánh đồng, dòng sông, bãi biển.Không gian cứ mở rộng mãi ra, bao la bát ngát theo nhịp trưởng thành của con người.Thời gian không ngừng vận động và cậu bé lớn lên từ quê nhà ấy trở thành chiến sĩ. Khi xa quê, đi vào trận chiến, nỗi nhớ thương chợt hiện về quay quắt tâm hồn,lúc này người và trăng lại càng gắn bó ánh trăng là bạn tri kỉ sẻ chia mọi gian truân thiếu thốn, mọi buồn vui sướng khổ trong những năm tháng chiến tranh của tác giả. Như vậy là tuổi thơ chớp mắt đã trôi qua.Cái sót lại lúc này là vầng trăng thật đơn sơ, chung thuỷ.

Hai chữ hồi ở câu thơ thứ nhất và thứ 3 làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân. Cái dừng chân giữa ranh giới của ấu thơ và trưởng thành. Ánh trăng soi rọi về quá khứ khiến tiếng nói tâm tình trở thành sâu lắng thiết tha:

Trần trụi với thiên nhiên

……….

Cái vầng trăng tình nghĩa

Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bè bạn, trăng gắn bó sâu nặng với con người mà không trở lực nào hoàn toàn có thể ngăn cách. Những năm tháng con người sống thật nhất với mình, trần trụi,hồn nhiên là khi con người ta trân trọng, đinh ninh một lời thề son sắt “ngỡ không lúc nào quên, cái vầng trăng tình nghĩa”.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 3

Trước kia, con người sống thả mình vào thiên nhiên, sống hồn nhiên, vui vẻ. Và vầng trăng sáng trên bầu trời đêm khi ấy giống như người bạn tri kỷ thiết với con người vậy. Điều đó, đã được thể hiện qua hai khổ thơ đầu bài thơ ánh trăng.

ngay lúc ta đọc khổ thơ thứ nhất:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

Với giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, lại phối hợp với cụm từ “ hồi nhỏ, hồi chiến tranh” đã gợi ta liên tưởng một quãng thời gian dài từ niên thiếu đến trưởng thành, nhất là những năm tháng gian lao thời chiến tranh. Từ khi còn nhỏ, con người đã sống chan hòa, gắn bó với thiên nhiên:

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh”

Ta thấy, con người lúc bấy giờ luôn sống gắn bó, hòa hợp với đồng, sông, bể, rừng. nghệ thuật điệp từ “với, hồi” phối hợp cùng với biện pháp liệt kê đã cho người đọc thấy điều đó. Hơn hết, nó mở ra trong tâm trí ta một không gian bao la, rộng lớn, khoáng đạt, đồng thời là niềm hạnh phúc của tuổi trẻ khi gắn bó với thiên nhiên và vầng trăng. Đến khi đi lính, trưởng thành, vầng trăng sáng vẫn luôn là bạn, gắn bó với con người. Trăng và người đã sống với nhau thân thiết, hồn nhiên, vô tư đến độ “như cây xanh”. Giữa họ có một tình bạn trong sáng, không vụ lợi. Tình cảm chân thành, bền chặt của con người với vầng trăng được diễn tả qu biện pháp so sánh và đồng thời là cả nhân hóa nữa.Ta thấy con người khi ấy coi trăng như tri kỉ, như tình nghĩa. Với sự gắn bó nghĩa tình ấy, con người đã từng tâm niệm:

“Ngỡ không lúc nào quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ ngỡ được đặt lên trên đầu của câu, nó như vừa nói lên điều tâm niệm sâu sắc trong lòng con người, vừa như báo trước một sự thay đổi lớn lao. Và qua hai khổ thơ đầu ấy, ta thấy vầng trăng mộc mạc, giản dị ấy cũng tương tự tầm hồn chân chất, hồn nhiên của người lính khi gắn bó với thiên nhiên.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 4

Hẳn trong tâm trí chúng ta vẫn chưa thể quên những lời thơ mộc mạc, giản dị mà chan chứa tình cảm trong bài thơ Tre Việt Nam của tác giả. Nếu Tre Việt Nam tựa như một khúc đồng dao ngân nga trong tâm hồn thì bước vào trái đất của ánh trăng, ta lại gặp những lời thơ chân thành, chứa đựng niềm do dự, day dứt:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn, Nguyễn Duy đã dựng lại được cả thời niên thiếu cho tới lúc trưởng thành của tôi. Khổ thơ nhẹ nhàng đưa người đọc lần về quá khứ, hai chữ “hồi ở câu một và ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân. Cái dừng chân giữa ranh giới của ấu thơ và lúc trưởng thành! Cả một hệ thống những đồng, sông, bể gọi một vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, nó cứ mở rộng dần ra cùng với thời gian lớn dần lên của đứa trẻ. Nhưng cái đó là nó diễn tả một nỗi niềm sung sướng đến hả hê được chan hòa, ngụp lặn trong cái mát lành của quê nhà như dòng sữa ngọt.

Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng – sông) phối hợp cùng từ “với” điệp lại ba lần gợi lên cái thế bè đôi thật quấn quýt sẻ chia, cảm thông, dìu đỡ con người, và đồng hay sông, rồi bể như những người bạn vô tư. ở hai câu đầu không thấy nói về vầng trăng. Chỉ đến khi lớn lên, cái ánh sáng bàng bạc mơ hồ của ánh trăng mới neo đậu vào trí nhớ con người khi phải xa cách quê nhà. Và người dẫn đường chỉ lối cho dòng suy nghĩ ấy đó là ánh trăng. có vẻ như cái ánh sáng cao khiết ấy soi rọi đến từng ngõ ngách khiến con đường trở về quá khứ trở thành sáng rõ. Vầng trăng đối với người cầm súng ở trong rừng đã thay thế cho toàn bộ, cả đồng, sông, bể để trở thành một người bạn đồng hành, thành vầng trăng tri kỉ:

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

“Tri kỉ” là biết người như biết mình, bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh trở thành hai bạn tri kỉ. Trăng đã chia ngọt sẻ bùi hân hoan trong thú vui thắng trận của người lính tiền phương. Nếu những tao nhân xưa thường “đăng lâu vọng nguyệt” thì anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều lần đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi hay đứng canh chờ giặc giữa rừng khuya sương muối cũng say sưa ngắm vầng trăng cao nguyên. Càng thú vị biết bao, cái vầng trăng từng làm mê đắm bao tâm hồn thi nhân của mọi thời đại hiện lên trong lời thơ của Nguyễn Duy vẫn rất mới mẻ, không hề trùng lặp:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

Chính cái giật mình thức tỉnh đáng trân trọng của tác giả khiến lòng ta cảm động. Một sự thức tỉnh đầy ý nghĩa sâu sắc. Ý kết của bài thơ đã nâng những suy nghĩ của tác giả lên tầm khái quát – triết lí: Ai cũng có thể có những lúc vô tình quên đi những gì đẹp đẽ của ngày xưa. Nếu như không tồn tại sự thức tỉnh, những lúc giật mình nhìn lại của lương tâm thì biết đâu chúng ta sẽ đánh mất chính mình? Cả bài thơ đẫm trong ánh trăng trong trẻo, ngời mát và ám ảnh. Lí Bạch đã từng có hai câu thơ rất nổi tiếng:

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

Giữa miền đất xa lạ dẫu vẫn nằm trên đất Trung Hoa, Lí Bạch nhìn vầng trăng mà nhớ quê nhà, như níu lấy chút gì thân quen để sưởi ấm tâm hồn người lữ khách. Thì với Nguyễn Duy, vầng trăng ngời tỏ trên bầu trời kia gợi lại cả một thời trong quá khứ và đặc biệt làm cho tâm hồn thi nhân bừng tỉnh và trở về với chính mình. có những lúc nào ta tự hỏi tại sao cũng chỉ là vầng trăng ấy thôi, con người lại hoàn toàn có thể nhìn thấy nhiều điều không giống nhau đến thế? Vầng trăng trong thơ Nguyễn Duy còn có ý nghĩa sâu sắc hình tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế, trăng còn là vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống. Trăng cứ tròn vành vạnh như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. ánh trăng im phăng phắc đó là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ: con người hoàn toàn có thể vô tình, hoàn toàn có thể quên béng nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ kể chi người vô tình là hình tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thuỷ chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 5

Từ xưa đến nay, ánh trăng với những thi nhân mà nói luôn là nguồn cảm hứng bất tận để sáng tạo ra những tác phẩm để đời. Ánh trăng là bạn, là người thương, là tri kỉ đối với họ. Như Bác Hồ của chúng ta, Người cũng say mê ánh trăng, vầng trăng ấy với biết bao bài thơ về trăng như Vọng nguyệt, Rằm tháng Giêng, … Và Nguyễn Duy cũng là một tình nhân trăng như bao thi sĩ khác, thế nhưng ánh trăng ấy với ông lại mang thêm một tầng ý nghĩa sâu sắc mới, không chỉ là là bạn, là tri kỷ, ánh trăng ấy còn tượng trưng cho quá khứ, cho tuổi thơ, cho những năm tháng hào hùng của dân tộc. Ông đã thể hiện điều đó trải qua hai khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng của tôi:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ

trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh

ngỡ không lúc nào quên

cái vầng trăng tình nghĩa”.

Lời thơ ở đây không mỹ miều, không thi vị hóa, nó giản dị, mộc mạc như đang kể một mẩu truyện ngày xưa. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn ngủi, Nguyễn Duy đã dựng lên cho chúng ta thấy cuộc sống của một con người từ những ngày còn thơ ấu cho tới những lúc trưởng thành. Chẳng có một sự đong đếm nào ở đây, nhưng người đọc lại như cảm thấy được bước đi của thời gian từ “hồi nhỏ” – lúc thơ ấu, đến “hồi chiến tranh” – khi là thanh niên. Và trong toàn bộ quãng thời gian ấy, ánh trăng là hình ảnh trung tâm, là hình ảnh xuyên suốt đi cùng con người. Điệp từ “hồi” như nhấn mạnh cái quá khứ đã xa xôi, nhưng vẫn còn đó đấy nguyên, hiện rõ trong tâm khảm của nhà thơ. Đó là sự hồi tưởng về những ngày tháng quá khứ, gợi lên những hình ảnh không thể quên từ lúc còn thơ ấu, đến khi hành quân bên đồng đội, ánh trăng vẫn luôn đồng hành cũng nhà thơ. Không gian ở đây được mở rộng từ “đồng” đến “sông” rồi đến “biển” theo trình tự liệt kê, đó là quy trình trưởng thành từ nhỏ tới lớn của nhà thơ, từ quê nhà rộng ra giang sơn.

Ngày còn bé, ánh trăng cùng chơi đùa với con người. Sau này, lên tới chiến khu, “vầng trăng thành tri kỉ” bởi đi đâu vầng trăng ấy cũng theo sau, cùng con người trải qua những tháng năm gian khổ chiến tranh, cùng nhau tự tình lúc nghỉ ngơi dọc đường. Như Chính Hữu cũng đã từng nhắc về vầng trăng ấy trong tác phẩm “Đồng chí” của tôi:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

Phải, vầng trăng ấy, ánh trăng ấy gắn bó với con người thật sâu sắc, thật gần gũi, chân thành biết bao! Nó là chứng nhân cho toàn bộ thảy những năm tháng gian khổ, vất vả của con người. Cái vầng trăng ấy với con người tưởng chừng đã gắn kết, một sự gắn kết tự nhiên, thân thuộc như hơi thở, không thể khoảng cách:

” Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh”

Nhà thơ đã tưởng như cái vầng trăng ấy trở thành một người bạn tri kỉ, chẳng lúc nào hoàn toàn có thể thôi không nhớ tới. Vầng trăng ở đây được nhân hóa thành một con người, một nhân vật trữ tình đầy xúc cảm, một tri kỉ đã theo suốt những tháng năm tuổi thơ và giai đoạn hành quân vất vả. Nhà thơ đã nghiễm tưởng sẽ chẳng lúc nào hoàn toàn có thể quên đi được:

“ngỡ không lúc nào quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

chính vì nó quá gắn bó, quá thủy chung với con người. Nhà thơ nhấn mạnh hai chữ “tình nghĩa” như nhấn mạnh sự gắn kết, nhấn mạnh thứ tình cảm bao năm tháng của con người đã có với nhau. Ánh trăng ở đây không thể đơn thuần là một người bạn tri kỉ nữa, nó là chứng nhân của năm tháng con người, là thứ hình tượng cho quá khứ. Con người sống ở hiện tại, hướng tới tương lai nhưng không được phép quên đi cái quá khứ ngày xưa đã từng gian khổ đi lên. Đây là chân lý, là bài học mà tác giả Nguyễn Duy muốn gửi gắm tới chúng ta qua hai khổ đầu bài thơ Ánh trăng này.

Thể thơ năm chữ nhịp nhàng, uyển chuyển, không viết hoa chữ cái đầu dòng thơ, bởi mỗi khổ thơ, Nguyễn Duy lại kể cho chúng ta nghe một mẩu truyện về vầng trăng mà ông đã gắn bó. Cùng với những biện pháp nhân hóa, so sánh, Nguyễn Duy muốn nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc của vầng trăng kia, nó là một người bạn, là một chứng nhân cho quy trình trưởng thành của con người, cho những năm tháng khốc liệt của chiến tranh trong quá khứ.

Ánh trăng ở đây không thể đơn thuần là ánh trăng nữa mà nó còn tượng trưng cho quá khứ, chi những năm tháng đã từng gắn bó với nhau. Qua hai khổ thơ, Nguyễn Duy không chỉ là muốn viết về ánh trắng mà còn muốn nhắc nhở chúng ta bài học: không được phép quên đi quá khứ, phải sống chung thủy, trọn vẹn nghĩa tình, đúng với đạo lý cha ông ta từng nói “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

6


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 6

Nguyễn Duy là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sáng tác của ông thấm đẫm phong vị của ca dao, dân ca nhưng nhiều bài văn có cái ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm. Thơ ông vì thế cứ đi sâu vào tâm hồn người đọc một cách tự nhiên và có những lúc khiến người ta phải giật mình. Ánh trăng là một thi phẩm như thế. Nó tựa như một mẩu truyện nhỏ có những sự kiện diễn biến theo trình tự thời gian. Lời thơ dung dị như lời kể những chất thơ vẫn đong đầy và chứa đựng những triết lí sâu sắc về con người, cuộc đời.

Mở đầu bài thơ là những kỉ niệm êm đềm, tươi đẹp giữa trăng và người trong quá khứ. Một loạt những mốc thời gian được liệt kê, như một cuốn phim quay chậm:

Hồi nhỏ sống với đồng

……….

vầng trăng thành tri kỉ.

Lời thơ như không hề có sử dụng công nghệ thuật mà chỉ là sự đo đếm bước đi của thời gian, sự kiện: hồi nhỏ, sống với đồng, với bể, với sông, hồi chiến tranh. Thế nhưng chứa đựng sau nó là cả một quãng đời dài, từ thời niên thiếu hồn nhiên, thơ dại đến khi trưởng thành và trong những năm tháng chiến tranh gian khổ gắn bó cùng trăng. Mọi chiều kích không gian và thời gian được mở rộng tới bao la, khôn cùng, gợi hình ảnh Ánh trăng tràn ngập không gian, trải dài theo thời gian. Cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “với” đã diễn tả một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc chan hòa cùng thiên nhiên của tác giả. Khi lớn lên, bước chân vào đời lính gian khổ, giữa núi rừng hoang lạnh “vầng trăng thành tri kỉ”. Trăng theo sát bước chân người lính, cùng sẻ chia buồn vui của cuộc sống chiến đấu. Ta chợt nhớ tới vầng trăng của tình đồng đội thiêng liêng trong sáng tác của Chính Hữu:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

(Chính Hữu – Đồng chí)

Trăng thực sự là một người bạn tri kỷ thiết trong những năm tháng tuổi nhỏ và là người “tri kỉ” của người lính trong những tháng ngày khói lửa chiến tranh. Con người giản dị, hồn nhiên như bản tính vốn có của tự nhiên bao đời:

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh.

Tính từ “trần trụi”, “hồn nhiên” được đặt ở hai đầu dòng thơ như muốn nhấn mạnh khi chất của con người. Trăng và người cứ hồn nhiên như thể, như sông, như đồng, như bể, như tâm hồn chân chất của những người nông dân mộc mạc, như tinh thần lạc quan, bay bổng của những người lính. Cách gieo vần lưng “thiên nhiên”, “hồn nhiên” làm cho âm điệu thơ liền mạch, khơi dòng cảm xúc dâng tràn trong tâm hồn thi nhân. Từ “ngỡ” như báo trước một sự đổi thay, một điều bất thường.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

7


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 7

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những sáng tác của ông mang đậm những triết lý, suy tư về cuộc đời và cuộc sống. Ánh trăng là một trong những sáng tác nổi trội cho đời thơ Nguyễn Duy, là lời gửi gắm đến mọi người về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính.

Bài thơ gồm sáu khổ thơ năm chữ phối hợp tự sự với trữ tình, là hồi ức mộc mạc, giản dị được kể lại theo trình tự thời gian. Từ một mẩu truyện riêng của tác giả, Ánh trăng trở thành lời nhắc nhở sâu xa thấm thía về cảm xúc ân tình với quá khứ gian lao nhưng đầy tình nghĩa đối với thiên nhiên giang sơn.

Mở đầu bài là những dòng hồi ức mộc mạc, giản dị. Những ký ức thuở nào ùa về hết sức chân thành:

“Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

………

Ngỡ không lúc nào quên

Cái vầng trăng tình nghĩa”

Đoạn thơ gợi lại ký ức của tác giả, một tuổi thơ bình dị với đồng ruộng mênh mông, với con sông bát ngát, với những cánh đồng trĩu nặng phù sa. Vầng trăng xuất hiện trong ký ức tuổi thơ là những tháng ngày giăng câu, xúc tép giữa đêm hôm được vầng trăng soi rọi, là những đêm quây quần bên góc sân, cùng nghe kể chuyện ngày xưa, cùng thổi nồi bánh nóng dưới ánh sáng vàng nhạt của ánh trăng. Trăng không chỉ là soi tỏ góc sân mà còn tràn ngập cả vườn cây, đồng lúa, không chỉ là soi sáng vùng trời mà còn soi rọi cả tuổi thơ. Lớn lên, theo kháng chiến trường kỳ, nhà thơ gắn bó với ánh trăng trong những năm dài chiến đấu.

Vầng trăng vì thế cũng trở thành thân quen bởi giữa rừng núi hoang vu cùng đồng đội “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, cũng trong những đêm ấy, vầng trăng như hòa cùng tinh thần người lính, tạo ra cái nhìn tinh nghịch “đầu súng trăng treo”. Bao lần họ cùng đắm mình dưới trăng, cùng hát ca, quây quần dưới tiếng khèn vi vút trong những đêm liên hoan, cùng ngắm mảnh trăng nhớ về ánh nhìn tình nhân đang trông đợi ở quê nhà, cùng hành quân trên chặng đường đầy ánh trăng sáng. Anh và trăng vì thế trở thành hai bạn tri kỷ, khăng khít, gắn bó ngỡ không thể nào quên. Tình cảm ấy, nghĩa tình ấy chỉ hoàn toàn có thể gọi với nhau bằng hai từ “tri kỷ”.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

8


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 8

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, người đọc biết đến ông qua bài thơ Cây tre Việt Nam. Thời bình ông đổi mới sáng tạo nghệ thuật đi tìm triết lí lối sống của con và Ánh trăng là một minh chứng sáng tác. Đặc biệt 2 khổ thơ đầu của bài thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc:

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

Tác giả đưa ta về với năm tháng tuổi thơ, từ hồi nhỏ gợi khoảng thời gian,tuổi thơ,hình ảnh cậu bé sống nông thôn cùng bè bạn dạo chơi đồng sông bể có ánh trăng đầy kỉ niệm. Theo thời gian cậu bé lớn lên vào chiến trường:

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ

Đó là những năm tháng gian lao cùng với đồng đội chiến đấu, trăng soi đường lúc hành quân, lúc nghỉ ngơi trăng tự tình trở thành tri kỉ. Tình cảm những năm tháng ấy thật hoang sơ mộc mạc:

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh

ngỡ không lúc nào quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Hình ảnh trần trụi hồn nhiên gợi cho ta cảm nhận đây là khoảng thời gian giữa con người và thiên nhiên xích lại gần nhau hơn. Không vật vã không một chút suy nghĩ phân cách, nó trong trắng, hồn nhiên, đó là tình bạn tuổi thơ, tình đồng đội mà nhân vật trữ tình ngỡ không thể nào quên. Vậy mà khi chiến tranh kết thúc, người lính trở về cuộc sống đời thường nhân vật trữ tình may mắn được sống và làm việc trên thành phố thì đã quên mất, bỏ lỡ người bạn tri kỉ năm xưa.

Khi giang sơn xã hội chuyển mình phát triển, con người sẽ bắt nhịp cuộc sống mới sẽ vô tình quên đi quá khứ quên đi nghĩa tình. Hai khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy như một lời nhắc nhở ta không được lơ là quá khứ bằng lời thơ hết sức giản dị, ngôn ngữ mộc mạc giọng điệu nhẹ nhàng với thể thơ năm chữ. Đoạn thơ như là lời tâm tình của tác giả giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn về đạo lý sống đẹp của con người, hãy sống thủy chung, sống đúng đạo lý dân tộc “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 8 Bài văn phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 8 Bài văn phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 8 Bài văn phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy) (Ngữ văn 9) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *